Chương 1: bao gồm 2 nội dung chính là tổng quan các công trình nghiên cứu về tác động của BBĐTN đến TTKT và đề xuất hướng nghiên cứu của luận án. Các công trình sau khi được nghiên cứu, phân tích sẽ được tổng hợp theo các khía cạnh về nội dung, về phương pháp, về phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu, giúp người đọc có cái nhìn bao quát về thực trạng nghiên cứu tác động của BBĐTN đến TTKT hiện nay, xác định những khoảng trống nghiên cứu còn chưa được giải quyết, từ đó đề xuất hướng nghiên cứu của luận án. Chương 2: cung cấp cơ sở lý luận, cho phép hình dung được phần nào tác động có thể có của BBĐTN đến TTKT cùng kênh truyền dẫn tác động tương ứng. Những nội dung cơ bản nhất của BBĐTN và TTKT sẽ được trình bày bao gồm các khái niệm, các thước đo thường được sử dụng và các nhân tố được cho là có tác động, gây ảnh hưởng.
Sau đó, các kênh truyền dẫn tác động của BBĐTN đến TTKT sẽ được phân tích. Cuối cùng là kinh nghiệm thực tiễn về tác động của BBĐTN đến TTKT trên thế giới. Chương 3: nói về thực trạng tác động của BBĐTN đến TTKT. Để làm được điều này, chương 3 trước hết sẽ mô tả thực trạng BBĐTN và thực trạng TTKT trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng.
Sau đó, luận án tiến hành trình bày mô hình nghiên cứu và phương pháp cụ thể sẽ thực hiện nhằm đánh giá tác động của BBĐTN đến TTKT. Các thước đo BBĐTN khác nhau sẽ được sử dụng. Các kênh truyền dẫn tác động khác nhau cũng được kiểm tra. Cuối cùng, dựa trên các ước lượng thu được, chương 3 trình bày các đánh giá, phân tích tác động của BBĐTN đến TTKT cũng như các nhân tố có liên quan đến mối quan hệ này, làm cơ sở cho các kiến nghị giải pháp tại chương 4.
Chương 4: đưa ra quan điểm đối với vấn đề BBĐTN, quan điểm về việc lựa chọn con đường TTKT của Việt Nam đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể giúp Việt Nam có thể thực hiện thành công con đường TTKT đã lựa chọn. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến thực trạng tác động của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế 1.
Nhóm các nghiên cứu xem xét tác động một chiều của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế Có 4 nhóm kết luận chủ yếu: (i) BBĐTN có hại cho TTKT, (ii) BBĐTN có lợi cho TTKT, (iii) Không tìm thấy tác động của BBĐTN lên TTKT và (iv) BBĐTN có cả hai tác động tích cực/tiêu cực đến TTKT, phụ thuộc vào những điều kiện nhất định. * Nhóm nghiên cứu cho rằng BBĐTN có hại cho TTKT Các nghiên cứu này đều thống nhất rằng, BBĐTN tăng cao sẽ dẫn tới tăng trưởng GDP thấp hơn. Dabla – Norris và các cộng sự (2015) cho rằng nếu tỉ trọng thu nhập của 20% giàu nhất tăng lên thì tăng trưởng GDP thực sự giảm trong trung hạn trong khi sự gia tăng tỷ trọng thu nhập của 20% dưới cùng (người nghèo) liên quan đến tăng trưởng GDP cao hơn. Ostry và cộng sự (2014) xác nhận BBĐTN là một nhân tố gây tác động tiêu cực đến tốc độ TTKT trung hạn, không những vậy, nó đồng thời cũng làm rút ngắn thời gian TTKT và làm tăng quy mô của phân phối lại.
Cingano (2014) chỉ ra BBĐTN sau thuế có tác động ngược chiều đến TTKT đồng thời chỉ ra lực cản chủ yếu đến từ BBĐTN ở nhóm nửa dưới của phân phối thu nhập, nói cách khác, chính mức thu nhập quá thấp của nhóm dân cư nghèo so với mức thu nhập bình quân là nguyên nhân gây cản trở TTKT. Dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian chỉ gồm 28 quan sát của Việt Nam, Luong Quang Hien (2022) cũng nhận thấy BBĐTN làm chậm tốc độ thay đổi trong phát triển kinh tế ở cùng năm. 7 Tác động tiêu cực của BBĐTN đến TTKT được tìm thấy trong dài hạn, trong trung hạn, trong ngắn hạn và cả tức thời. Các tác động trong dài hạn (20 năm trở lên) được tìm thấy bởi Alesina và Rodrik (1994), Deninger và Squire (1998), David và Hopkins (2011), Bernard và Sin – Yu (2017), … Các tác động trong trung hạn (10 – 15 năm) được tìm thấy bởi Alesina và Rodrik (1994), Deninger và Squire (1998), Voitchovsky (2005), Ostry và cộng sự (2014), … Các tác động trong ngắn hạn (không quá 5 năm) được tìm thấy bởi Chambers và Krause (2010), Lee và Son (2016), Kennedy và cộng sự (2017),.
Tác động trong tức thời được tìm thấy bởi Dabla – Norris và cộng sự (2015). Các nhân tố có khả năng gây ảnh hưởng đến kết quả thu được bao gồm mức phát triển kinh tế và mức độ dân chủ của các quốc gia, mô hình hồi quy sử dụng, giai đoạn nghiên cứu, kĩ thuật ước lượng và thước đo BBĐTN được sử dụng. Perotti (1996) tìm thấy BBĐTN có hại cho TTKT tại nhóm nước giàu trong khi không tìm thấy tác động tại nhóm nước nghèo. Deninger và Squire (1998) cho rằng mức độ ảnh hưởng bất lợi này không đáng kể tại các nước đang phát triển trong dài hạn, tuy nhiên, khi xét trong trung hạn, BBĐTN gây hại đáng kể đến tăng trưởng thu nhập tại nhóm các nước nghèo hơn trong khi không có tác động rõ ràng đến tăng trưởng thu nhập của nhóm các nước giàu.
Tương tự, Lee và Son (2016) nhận thấy rằng các ảnh hưởng tiêu cực của BBĐTN đến TTKT có thể mang ý nghĩa lớn hơn tại những quốc gia kém phát triển hơn. Odedokum và Round (2004) tìm được một số bằng chứng cho thấy BBĐTN cao làm giảm TTKT tại khu vực nông thôn giai đoạn những năm 1990 mà chưa tìm thấy tác động tại khu vực thành thị. Khalifa và El Hag (2010) đánh giá tác động của BBĐTN đối với TTKT phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế. Tồn tại ngưỡng thu nhập trên đầu người khoảng 1347$, có ý nghĩa thống kê mà ở dưới ngưỡng đó, mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT là âm một cách đáng kể trong khi trên ngưỡng đó, ước tính là dương nhưng lại không có ý nghĩa thống kê.
Tùy thuộc vào chế độ dân chủ hay phi dân chủ của mỗi nhóm quốc gia, kết quả cũng có sự thay đổi. Persson và Tabellini (1994), Perotti (1996) tìm thấy tác động có hại lên TTKT tại các quốc gia dân chủ trong khi không tìm 8 thấy tác động tại các quốc gia phi dân chủ. Trong khi đó, Clarke (1995) tìm thấy ảnh hưởng tiêu cực của BBĐTN đến cả các nền dân chủ và phi dân chủ trong đó các nền dân chủ bị ảnh hưởng bởi BBĐTN nhiều hơn so với các nền phi dân chủ. Ngược lại, Deninger và Squire (1998) tìm thấy tác động có hại lên TTKT tại các quốc gia phi dân chủ trong khi không tìm thấy tác động tại các quốc gia dân chủ.
Khi áp dụng trên các mô hình hồi quy TTKT với các nhóm biến kiểm soát khác nhau, kết quả tiêu cực này có thể vẫn giữ nguyên (Clarke, 1995) hoặc thay đổi (Perotti, 1996; David và Hopkins, 2011). Perotti (1996) nhận thấy mối quan hệ tiêu cực này biến mất khi bổ sung thêm vào mô hình TTKT biến thể hiện quốc gia dân chủ hay phi dân chủ, quốc gia giàu hay nghèo. David và Hopkins (2011) cho thấy rằng mối quan hệ tiêu cực dài hạn giữa BBĐTN và TTKT được tìm thấy sẽ biến mất khi các biến thể chế (bao gồm mức độ dân chủ và bảo vệ quyền sở hữu) được bổ sung vào mô hình TTKT. Kết quả tiêu cực thu được có thể không thay đổi (Alesina và Rodrik, 1994; Persson và Tabellini, 1994) hoặc thay đổi (Lee và Son, 2016) khi áp dụng trên các giai đoạn khác nhau.
Lee và Son (2016) nhận thấy tác động tiêu cực của BBĐTN lên TTKT được tìm thấy ở giai đoạn 1965 – 2010 sẽ biến mất khi quan sát ở giai đoạn 1965 – 1995. Kết quả thu được có thể không thay đổi khi sử dụng các kỹ thuật ước lượng khác nhau (Alesina và Rodrik, 1994; Persson và Tabellini, 1994; Clarke, 1995; Sylwester, 2000; David và Hopkins, 2011) nhưng cũng có thể thay đổi (Lee và Son, 2016). Lee và Son (2016) tìm thấy tác động tiêu cực của BBĐTN lên TTKT ở giai đoạn 1965 – 2010 bằng phương pháp ước lượng system GMM nhưng lại tìm thấy tác động tích cực khi sử dụng phương pháp ước lượng First – difference GMM. Một số tác giả (Persson và Tabellini, 1994; Clarke, 1995; Perotti, 1996; Galor và Zang, 1997; Tanninen, 1999) đã thử kiểm tra độ vững của kết quả thu được bằng cách sử dụng các thước đo BBĐTN khác nhau, kết quả thu được là không thay đổi.
9 * Bên cạnh đó, vẫn tồn tại những nghiên cứu cho rằng BBĐTN có tác động tích cực đến TTKT. Li và Zou (1998) sử dụng các bằng chứng thực nghiệm để chứng minh BBĐTN tác động thuận chiều một cách có ý nghĩa đến TTKT trong ngắn hạn, tuy nhiên trong dài hạn lại, tác động này là ngược chiều một cách có ý nghĩa. Trong khi đó, Li và các cộng sự (2016) tìm thấy mối quan hệ đáng kể, thuận chiều, dài hạn giữa BBĐTN và TTKT ở Trung Quốc. Ở các nước có nền kinh tế tiên tiến, TTKT thúc đẩy BBĐTN, trong khi ở các nước nghèo hoặc đang phát triển, TTKT được thúc đẩy bởi việc tập trung thu nhập (Brida và các cộng sự, 2020).
Ortega –Diaz (2006) tìm thấy tác động trong ngắn hạn và trung hạn của BBĐTN lên TTKT là tích cực trong giai đoạn 1980 – 2002 tại 32 bang của Mexico. Các tác động này là tích cực rõ rệt đối với các vùng nghèo nhất và có xu hướng tiêu cực nhưng không đáng kể đối với các vùng giàu nhất của Mexico. Cũng tìm thấy tác động thuận chiều trong trung hạn, Chletsos và Fatouros (2016) cho rằng, các nhà hoạch định chính sách cần phải tính đến một sự đánh đổi nhất định giữa việc phân bổ thu nhập công bằng hơn và tăng trưởng nhanh hơn của nền kinh tế. Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Công (2006), Hoàng Thúy Yến (2008), Nguyễn Lê Hải Hà (2019) cũng tìm thấy mối liên hệ thuận chiều giữa mức độ BBĐTN và TTKT ở các tỉnh.
Hoàng Thúy Yến (2008) còn chỉ ra cùng mức BBĐTN như nhau, những vùng được đầu tư nhiều hơn, chăm lo cho giáo dục và y tế tốt hơn sẽ có mức TTKT cao hơn. * Một số nghiên cứu không tìm thấy tác động của BBĐTN đến TTKT. Lopez (2004) không tìm thấy bằng chứng đáng kể về ảnh hưởng của BBĐTN đến TTKT dù thực tế nó khá gần với mức ý nghĩa 10%.