ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN _______________ HOA THỊ LỆ QUYÊN ẢNH HƯỞNG CỦA BẠO LỰC GIỚI TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Chuyên ngành Xã hội học Mã số: 60.30 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Thị Kim Hoa HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC PHẦN 1. Tính cấp thiết của đề tài:. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn:. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:. Câu hỏi nghiên cứu:.
Giả thuyết nghiên cứu:. Phƣơng pháp nghiên cứu:. Khung phân tích. NỘI DUNG CHÍNH.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. Phƣơng pháp luận của Triết học Mác – Lênin. Một số khái niệm công cụ. Một số lý thuyết xã hội học.
Cơ sở thực tiễn nghiên cứu đề tài. THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Bạo lực giới trong gia đình tại Việt Nam hiện nay.
Các hình thức bạo lực gia đình. Nguyên nhân của bạo lực giới trong gia đình. HẬU QUẢ CỦA BẠO LỰC GIỚI TRONG GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM. Ảnh hƣởng xâm hại tới thân thể và tinh thần trẻ em.
Ảnh hƣởng tới tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Ảnh hƣởng tới việc chăm sóc sức khoẻ và dinh dƣỡng trẻ em. Ảnh hƣởng tới việc học tập-giáo dục của trẻ em. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.
99 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 102 2 Danh sách bảng biểu Bảng 2.1: Hành vi bạo lực của chồng đối với vợ chia theo một số đặc trƣng Bảng 2.2: Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực phân theo sở thích của chồng Bảng 2.3: Ý kiến đồng ý của ngƣời trả lời về những hành vi của vợ mà ngƣời chồng có thể đánh chia theo một số đặc điểm Bảng 3.1: Hành vi bạo lực của ngƣời chồng đối với con theo trả lời của phụ nữ có con dƣới 15 tuổi Danh sách hình Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ phụ nữ có con dƣới 15 tuổi trả lời chồng có bạo lực con cái chia theo trải nghiệm bạo lực do chồng gây ra Biểu đồ 3.2: So sánh tình trạng SKSS của phụ nữ không bị bạo lực và phụ nữ bị bạo lực thể xác và tình dục Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ phụ nữ từng bị bạo lực thể xác do chồng gây ra trả lời về số lần con cái họ chứng kiến bạo lực Biểu đồ 3.4: Bạo lực trong gia đình của ngƣời phụ nữ và ngƣời chồng chia theo trả lời về bạo lực của ngƣời phụ nữ Biểu đồ 3.5: Những ảnh hƣởng đến trẻ từ 6-11 tuổi theo trả lời của phụ nữ chia theo trải nghiệm bạo lực về thể xác và tình dục cho chồng gây ra 3 PHẦN 1. Tính cấp thiết của đề tài: Từ xƣa đến nay, gia đình vốn vẫn đƣợc coi là tổ ấm, nơi mỗi con ngƣời có thể tìm thấy niềm vui, hạnh phúc của riêng mình. Đối với trẻ em, gia đình là cái nôi tuyệt vời nhất, là nơi các em đƣợc bảo vệ, chăm sóc, đƣợc giáo dục và lớn lên trong sự yêu thƣơng vô bờ bến của những bậc sinh thành.
Đã có nhiều danh nhân, giai nhân và anh hùng trong lịch sử đƣợc hình thành nhân cách vĩ đại từ những cái nôi gia đình nhƣ vậy. Tuy nhiên, ở thời đại văn minh hiện nay, bạo lực giới trong gia đình vẫn còn tồn tại nhƣ một tệ nạn xã hội đáng lên án, cần đƣợc xóa bỏ triệt để, bởi nó là nguyên nhân huỷ hoại tổ ấm gia đình, làm mất đi niềm tin cuộc sống và hạnh phúc của mỗi con ngƣời. Nguy hiểm hơn, là ảnh hƣởng tiêu cực của nó có thể làm tổn thƣơng, thậm chí làm méo mó nhân cách của con nguời, đặc biệt là trẻ em. Xét từ góc độ xã hội học, bạo lực gia đình là một hiện tƣợng xã hội.
Nó có nguyên nhân phát sinh, hình thành, tồn tại và có mối quan hệ nhân quả trong điều kiện lịch sử - xã hội nhất định. Hiện tƣợng này phổ biến ở nhiều nƣớc trên thế giới và cả Việt Nam. Theo nhận định của WHO, bạo lực gia đình đã và đang tác động đến một bộ phận không nhỏ phụ nữ trên toàn thế giới và là một trở ngại lớn cho quá trình bình đẳng giới. Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực gia đình đã đƣợc Nhà nƣớc và xã hội quan tâm một cách sát sao hơn khi ngày càng có nhiều vụ bạo lực gia đình đƣợc phát hiện, gây ra những hậu quả nặng nề đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em.
“Cho đến nay bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ Việt Nam vẫn còn diễn ra nhiều nơi, với mọi đối tượng và gây hậu quả nghiêm trọng (Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội 2006). Kết quả các cuộc nghiên cứu về bạo lực tiến hành trong thập kỷ qua đã góp phần làm sáng tỏ mức độ phổ biến của hành vi bạo lực giới trong gia đình, thu hút sự quan tâm của cộng đồng, các cấp chính 4 quyền điạ phƣơng, các tổ chức đấu tranh cho sự tiến bộ của phụ nữ. Khảo sát của Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2006 cho biết: Ở Việt Nam, cứ khoảng 2-3 ngày có một ngƣời bị giết liên quan đến bạo hành gia đình – đây là một con số đáng báo động. Nhiều nghiên cứu về trẻ em cũng cho thấy, hậu quả của bạo lực gia đình đã đẩy không ít trẻ em rơi vào hoàn cảnh éo le, khó khăn trong cuộc sống.
Theo số liệu Chỉ tiêu trẻ em Việt Nam do Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam cung cấp cho biết năm 2000 toàn quốc có 51.361 vụ án hôn nhân và gia đình, trong đó có 43.377 vụ đã đƣợc giải quyết liên quan đến 31.063 trẻ em, trong đó có rất nhiều trẻ em còn ở lứa tuổi mầm non 1. Số liệu từ cuộc “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012- 2016” cho thấy số vụ bạo lực xảy ra ở Hà Nội năm 2009 là 436 vụ, 2010 là 417 vụ và 376 vụ năm 2011 [trang 8]. Thống kê của Toà án nhân dân tối cao từ năm 1992 đến năm 2001 đã có 99.506 trẻ em phải sống thiếu cha, hoặc mẹ, hoặc thiếu cả cha và mẹ do bố mẹ ly hôn 2. Ai cũng nhận thấy rằng không một trẻ em nào có thể phát triển bình thƣờng khi chúng chứng kiến và phải chịu đựng sự chia cắt, tan rã gia đình, phải chịu những mất mát về tình cảm khi phải sống thiếu cha, hoặc mẹ, hoặc cả hai.
Nhiều em trong hoàn cảnh bố mẹ ly hôn, ly thân đã không đƣợc đi học, không đƣợc vui chơi, phải lao động sớm kiếm sống, các em thiếu sự bảo vệ, chăm sóc của bố mẹ, của gia đình. 1 Trung tâm Thông tin –T liệu & Nghiên cứu, Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam (2001), Chỉ tiêu trẻ em Việt Nam năm 2000. Hà Nội, tr.99 2 Nguyễn Đình Thiết, Báo cáo đề tài trẻ em trong gia đình ly hôn tr. Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.
5 Những dẫn chứng trên cho thấy thật đáng lo ngại về hậu quả của bạo lực trong gia đình. Đây đang là một vấn đề xã hội bức xúc, trực tiếp tác động ảnh hƣởng đến sự bền vững của gia đình và sự giáo dục – xã hội hoá trẻ em hiện nay. Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của bạo lực giới trong gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” để tiếp tục tìm hiểu và lý giải một hiện tƣợng xã hội bức xúc đang đƣợc nhiều ngƣời quan tâm. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2.
Các nghiên cứu trên thế giới: Bạo lực trên cơ sở giới xảy ra ở tất cả các nƣớc và các xã hội, và trong tất cả các nhóm văn hóa, tôn giáo, kinh tế, xã hội. Trong các điều tra dân số ở 48 nƣớc trên thế giới, 10-69% phụ nữ cho biết họ đã trả qua một số dạng bạo lực thân thể do ngƣời bạn tình của họ gây ra trong đời.1 Cứ bốn phụ nữ thì có một phụ nữ bị bạo lực tình dục trong cuộc đời bởi bạn tình của họ.2 Trong số 613 phụ nữ đƣợc khảo sát ở Nhật Bản- những ngƣời đã từng bị lạm dụng thì 57% đã từng bị lạm dụng cả 3 loại: về thể chất, tâm lý và tình dục.3 Bạo lực trong thời gian mang thai cũng là một vấn đề nghiêm trọng. Các cuộc khảo sát từ Ca Na Đa, Chi Lê, Ai Cập và Ni - Ca - Ra - Goa cho thấy 6-15% phụ nữ đã từng bị lạm dụng về thân thể hoặc tình dục trong quá trình mang thai.4 Một nghiên cứu đa quốc gia của Tổ chức Y tế Thế giới về bạo lực đối với phụ nữ cho thấy những tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực ở Châu Á với cùng một quy mô nhƣ các nghiên cứu khác trên thế giới đã đƣa ra.Gotemoeller, “Chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ”, Các báo cáo về Dân số, 27 (4), 1999 và Krug, BG.Mercey JA, Zwi, AB Lozano, (2002) Báo cáo Thế giới về Bạo lực, Chƣơng 4, Bạo lực bơi bạn tình, Geneva; Tổ chức Y tế Thế giới. 3 Krug, EG, Dahlberg, L.L Mercey, JA Zwi, AB Lozano, (2002) Báo cáo Thế giới về Bạo lực, Chƣơng 4, Bạo lực bơi bạn tình, Geneva; Tổ chức Y tế Thế giới.
4 Ibid 6 Một nghiên cứu ở Mỹ La Tinh năm 1996-1997 dự tính rằng chỉ riêng chi phí chăm sóc sức khỏe do Bạo lực giới (không bao gồm các chi phí khác) đã là 1,9% GDP ở Brazil, 5% ở Cô Lôm Bi A, 4,3% ở Sa Van Do, 1,3% ở Mê Xi Cô, 1,5% ở Pê Ru, và 0,3% ở Ve Ne Duê Na 1. Bạo lực giới có thể gây ra những hậu quả lâu dài làm giảm năng suất của nạn nhân. Đối với xã hội, bạo lực giới đòi hỏi phải có các nguồn lực rất lớn cho các can thiệp công ví dụ nhƣ các dịch vụ về công an, tòa án, hỗ trợ xã hội và pháp lý, các dịch vụ bảo vệ trẻ em và xử lý những kẻ phạm tội. Ví dụ, ở Mỹ dự tính ngân sách quốc gia hàng năm cho việc thực thi Đạo luật năm 1994 về Phòng chống Bạo lực Gia Đình đối với phụ nữ là 1,6 tỷ USD.