Chương 1: Giới thiệu. Chương này trình bày tổng quan về luận án bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, phạm vi, phương pháp, dữ liệu nghiên cứu, điểm mới, các đóng góp của đề tài và kết cấu luận án để qua đó làm cơ sở cho các chương tiếp theo. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu. Trong chương này sẽ phân tích tổng quan lý thuyết về CSTT, ổn định tài chính ngân hàng, mức độ chấp nhận rủi ro.
Đồng thời khảo lược các nghiên cứu trước để tìm ra khe hở nghiên cứu. Từ đó đề ra giả thuyết nhằm phát triển mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, luận án mô tả cụ thể về phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu và mô hình nghiên cứu, trong đó mô tả chi tiết về các biến và cách đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu.
Đồng thời, trong chương này cũng trình bày rõ cách thức thu thập dữ liệu của nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. 9 Trong chương này, luận án phân tích, trình bày bằng chứng thực nghiệm về tác động của CSTT đến ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam thông qua mức độ chấp nhận rủi ro giai đoạn 2007-2019. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.
Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu dựa trên kết quả nghiên cứu của chương 4, từ đó rút ra kết luận của luận án, đề xuất một số hàm ý chính sách, quản trị và hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương 2, luận án trình bày về cơ sở lý thuyết của chính sách tiền tệ, mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng thương mại, tính ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại; cũng như lược khảo các nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ đến tính ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại, tác động của chính sách tiền tệ đến mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng thương mại và tác động của mức độ chấp nhận rủi ro đến tính ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại.1 Chính sách tiền tệ. Theo Mishkin (2013), chính sách tiền tệ là quá trình quản lý cung tiền của ngân hàng Trung ương nhằm đạt được những mục tiêu nhất định như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách có độ nhạy cảm cao, chịu nhiều tác động trực tiếp, gián tiếp từ hoàn cảnh nội tại của nền kinh tế cũng như những tác động bên ngoài, do vậy chính sách tiền tệ được xem như là nội dung chủ chốt quan trọng, chính yếu trong ổn định hệ thống tài chính.
Ngân hàng Trung ương là cơ quan độc quyền trong in và phát hành tiền, ngân hàng Trung ương còn đóng vai trò là ngân hàng của chính phủ, ngân hàng của ngân hàng thương mại, người cho vay cuối cùng, cơ quan quản lý hệ thống thanh toán, cơ quan giám sát hệ thống ngân hàng và là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ (Blinder et al. Các quốc gia trên thế giới đều nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của chính sách tiền tệ như một điều kiện cần thiết để ổn định kinh tế vĩ mô và quan tâm nghiên cứu về vấn đề này. Có nhiều khái niệm về chính sách tiền tệ khác nhau tại các quốc gia trên thế giới. Chính sách tiền tệ được thể hiện dưới nhiều khía cạnh, trong đó chính sách tiền tệ được xem là các hành động của ngân hàng Trung ương nhằm thay đổi cung tiền hoặc lãi suất chính sách để hướng đến mục tiêu ổn định lạm phát, tăng trưởng 11 kinh tế, toàn dụng lao động và ổn định tỷ giá hối đoái (Araújo, 2015; Drakos and Kouretas, 2015; Sánchez, 2012).
Ở Việt Nam chính sách tiền tệ được mô tả thông qua việc sử dụng các mục tiêu và công cụ điều hành, “chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô, mà trong đó ngân hàng Trung ương, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng (hoặc lãi suất) căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả, sản lượng và công ăn việc làm” (Tô Kim Ngọc, 2012). Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra” (Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 29/06/2010) Như vậy, bản chất của CSTT là do NHTW thực hiện thông qua việc chi phối, điều tiết khối lượng tiền tệ trong cung ứng lưu thông, tín dụng và lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra bao gồm: kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền quốc gia, tăng trưởng kinh tế và tạo ra công ăn việc làm.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ. Ngân hàng Trung ương thực thi chính sách tiền tệ để hướng đến ổn định kinh tế, tạo việc làm, ổn định hệ thống tài chính, nhưng ổn định giá cả vẫn luôn là mục tiêu quan trọng nhất (Cecchetti and Krause, 2002; Geraats, 2002; Issing, 2004; Spyromitros and Tuysuz, 2012; Van der Cruijsen and Demertzis, 2007; Jean Louis and Balli, 2013). Việc thực thi chính sách tiền tệ được bắt đầu từ việc xác định mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ (là các mục tiêu kinh tế vĩ mô); tiếp đến là các mục tiêu trung gian (như lãi suất hoặc lượng tiền cung ứng, tín dụng) thống nhất với mục tiêu cuối cùng; các mục tiêu hoạt động cần phải đạt được để tác động vào mục tiêu trung gian; và xác định các công cụ mà ngân hàng Trung ương có thể sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ.1 Mục tiêu cuối cùng.
Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là các biến số cuối cùng mà các nhà hoạch định chính sách (Ngân hàng Trung ương) muốn đạt được khi điều hành chính sách tiền tệ. Các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ có thể hướng tới một mục tiêu hoặc nhiều mục tiêu như: giá cả ổn định, tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên, công ăn việc làm cao, kinh tế tăng trưởng cao, thị trường tài chính ổn định, lãi suất ổn định và thị trường ngoại hối ổn định. Chính sách tiền tệ phối hợp nhiều chính sách khác như chính sách tài khoá, chính sách thương mại, chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại. sẽ giúp nền kinh tế đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ không phải lúc nào cũng nhất trí và hỗ trợ cho nhau. Trong một số trường hợp, vẫn có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau khiến cho việc theo đuổi mục tiêu này đòi hỏi phải có những hy sinh nhất định về mục tiêu kia. Mục tiêu ổn định giá và mục tiêu ổn định tài chính có thể phát sinh xung đột vì chu kỳ tài chính thường dài hơn chu kỳ kinh doanh và hai chu kỳ này có thể phân kỳ và không hội tụ; lãi suất thích hợp cho ổn định giá có thể không phù hợp với ổn định tài chính (Menon, 2015). Vì vậy, chính sách tiền tệ thường có hạn chế nhất định trong việc đạt được đồng thời cả 2 mục tiêu ổn định giá và ổn định tài chính.
Điều này phù hợp với nguyên tắc Tinbergen theo đó để đạt được một số mục tiêu chính sách độc lập, phải có ít nhất một số lượng các công cụ bằng số lượng các mục tiêu. Khi các nhà hoạch định chính sách tiền tệ mong muốn đạt đuợc một mục tiêu chính sách tiền tệ cụ thể thì cần thiết phải kiểm soát độc lập đuợc các công cụ chính sách tiền tệ. Truờng hợp ngân hàng Trung ương theo đuổi mục tiêu lạm phát và ổn định tăng truởng cần có hai công cụ chính sách tiền tệ, tuy nhiên ngân hàng Trung ương sẽ cần bổ sung công cụ thứ ba nếu muốn đạt đuợc mục tiêu ổn định tài chính. Vì vậy, trong tương lai ngân hàng Trung ương cần phải bổ sung và mở rộng các công cụ truyền thống để đạt đuợc các mục tiêu kinh tế vĩ mô trên.
Ổn định kinh tế vĩ mô (ổn định giá) và ổn định tài chính là hai mục tiêu do đó cần hai công cụ điều hành riêng biệt. Với công cụ bổ sung, và trong môi trường xác định, ngân hàng Trung ương có thể đạt được các mục tiêu của họ chính xác và 13 liên tục (thông qua các quy tắc động) (Agénor & Pereira da Silva, 2012; Woodford, 2012). Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách thường sử dụng công cụ của chính sách an toàn vĩ mô để hướng đến mục tiêu ổn định tài chính trong khi chính sách tiền tệ được giải phóng để tập trung vào mục tiêu ổn định giá. Phần lớn ngân hàng Trung ương các nước coi ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ, nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏ mục tiêu chủ yếu này để khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc các ảnh hưởng của các cú sốc cung đối với sản lượng.
Có thể nói ngân hàng Trung ương theo đuổi một mục tiêu về dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn. Trong từng thời kỳ, mục tiêu cuối cùng được lượng hoá cụ thể phù hợp với diễn biến kinh tế và diễn biến tiền tệ. Do tính chất quan trọng của mục tiêu cuối cùng gắn với nhiệm vụ của ngân hàng Trung ương nên ở nhiều nước mục tiêu này thường được Luật hóa. Xu hướng hiện nay, mục tiêu cuối cùng là ổn định giá cả được cụ thể hóa trong Luật: ở Châu Âu (ECB) đây là mục tiêu duy nhất; ở Mỹ ngoài mục tiêu này FED có thêm mục tiêu tạo việc làm; các nước có độ mở nền kinh tế lớn như Singapore, Hồng Kông mục tiêu cuối cùng là ổn định tỷ giá.
Ở Việt Nam, theo Điều 4 Luật ngân hàng nhà nước năm 2010 quy định nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước là nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.