Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu của đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết tác động chi ngân sách nhà nước, quản trị công địa phương đến tăng trưởng kinh tế và các nghiên cứu liên quan Đưa ra các lý thuyết liên quan về tác động của chi NSNN, quản trị công địa phương đến tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt Nam và các nghiên cứu đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu tác động chi ngân sách nhà nước, quản trị công địa phương đến tăng trưởng kinh tế các địa phương tại Việt Nam Mô tả mẫu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và giải thích các biến được sử dụng để phân tích. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác động chi ngân sách nhà nước, quản trị công địa phương đến tăng trưởng kinh tế các địa phương tại Việt Nam Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi NSNN, quản trị công địa phương đến tăng trưởng kinh tế các địa phương tại Việt Nam.
- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Tóm tắt nghiên cứu và đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chi NSNN, quản trị công địa phương đến tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÁC ĐỘNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, QUẢN TRỊ CÔNG ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Tổng quan về các khái niệm 2. Tổng quan chi ngân sách Nhà nước 2.
Ngân sách nhà nước NSNN là một báo cáo tài chính hàng năm thể hiện những ước tính về doanh thu dự kiến và chi tiêu dự kiến trong một năm tài chính. Vào đầu mỗi năm, chính phủ trình bày trước quốc hội một bản ước tính về các khoản thu và chi cho năm tài chính sắp tới. Chính phủ lập kế hoạch chi tiêu theo mục tiêu của mình và sau đó cố gắng huy động các nguồn lực để đáp ứng chi tiêu đã đề ra (Wildavsky, 1964; Giertz, 1981; Lapsley và cộng sự, 2011). Các mục tiêu chính của NSNN bao gồm: Tăng trưởng kinh tế: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và cân đối, nâng cao mức sống của nhân dân.
Giảm nghèo và thất nghiệp: xóa nghèo và thất nghiệp hàng loạt bằng cách tạo cơ hội việc làm và cung cấp các lợi ích xã hội tối đa cho người nghèo. Giảm bất bình đẳng: bất bình đẳng về thu nhập và của cải được giảm bớt thông qua việc đánh thuế và trợ cấp. Chính phủ đánh thuế suất cao đối với người giàu và thấp hơn ở nhóm thu nhập thấp hơn, đồng thời cung cấp cho nhóm thu nhập thấp các khoản trợ cấp và tiện nghi. Phân bổ lại cơ cấu các nguồn lực: việc phân bổ lại các nguồn lực là cần thiết để đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội.
Chính phủ phân bổ nguồn lực vào các lĩnh vực mà tư nhân chưa thực hiện nhiều như vệ sinh công cộng, giáo dục, y tế, v. Ổn định giá cả: để duy trì sự ổn định giá cả và điều chỉnh các chu kỳ kinh doanh liên quan đến suy thoái đặc trưng bởi sản lượng giảm, giá cả và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. Quản lý các doanh nghiệp công: quản lý các doanh nghiệp công mang tính chất độc quyền quốc gia như đường sắt, điện lực,. NSNN được coi là ngân sách thặng dư nếu doanh thu dự kiến của chính phủ vượt quá chi tiêu ước tính của chính phủ trong một năm tài chính cụ thể.
Điều này có nghĩa là thu nhập của chính phủ từ thuế lớn hơn số tiền mà chính phủ chi cho phúc lợi công cộng Theo Premchand (1994), NSNN là một báo cáo tài chính hàng năm trong đó trình bày chi tiêu ước tính của chính phủ và các khoản thu hoặc doanh thu dự kiến của chính phủ cho 10 năm tài chính sắp tới. Tùy thuộc vào tính khả thi của các dự toán này, ngân sách có ba loại - ngân sách cân đối, ngân sách thặng dư và ngân sách thâm hụt (Sun và Lynch, 2008), như: (1) ngân sách cân đối là ngân sách cân bằng nếu chi tiêu ước tính của chính phủ bằng với thu nhập dự kiến của chính phủ trong một năm tài chính cụ thể. Được nhiều nhà kinh tế học cổ điển ủng hộ, loại ngân sách này dựa trên nguyên tắc “sống trong tầm tay”. Họ tin rằng chi tiêu của chính phủ không được vượt quá doanh thu của họ.
Mặc dù là một cách tiếp cận lý tưởng để đạt được một nền kinh tế cân bằng và duy trì kỷ luật tài khóa, một ngân sách cân bằng không đảm bảo sự ổn định tài chính vào những thời điểm kinh tế suy thoái hoặc giảm phát. Về mặt lý thuyết, có thể dễ dàng cân bằng giữa chi tiêu ước tính và thu nhập dự kiến nhưng khi thực hiện trên thực tế, khó có thể đạt được sự cân bằng đó. (2) Ngân sách thặng dư xảy ra trong trường doanh thu dự kiến của chính phủ vượt quá chi tiêu ước tính của chính phủ trong một năm tài chính. Điều này có nghĩa là thu nhập của chính phủ từ các khoản thuế thu được lớn hơn số tiền mà chính phủ chi cho phúc lợi công cộng.
Ngân sách thặng dư biểu thị sự sung túc về tài chính của một quốc gia. Một ngân sách như vậy có thể được thực hiện vào những thời điểm lạm phát để giảm tổng cầu. Và (3), ngân sách thâm hụt nếu chi tiêu ước tính của chính phủ vượt quá thu nhập dự kiến của chính phủ trong một năm tài chính cụ thể. Loại ngân sách này phù hợp nhất với các nền kinh tế đang phát triển, chẳng hạn như Ấn Độ.
Đặc biệt hữu ích trong thời điểm suy thoái, ngân sách thâm hụt giúp tạo ra nhu cầu bổ sung và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ở đây, chính phủ phải chịu chi tiêu quá mức để cải thiện tỷ lệ việc làm, thúc đẩy sản xuất. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, giúp phục hồi nền kinh tế. Chính phủ trang trải số tiền này thông qua các khoản vay công (bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ) hoặc bằng cách rút từ thặng dư dự trữ.
Tại Việt Nam, khái niệm NSNN được quy định trong pháp luật thực định tại Điều 4 của Luật ngân sách nhà nước năm 2015 với định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Với các định nghĩa này, các nhà làm luật đã đề cập tới ba vấn đề cơ bản khi quan niệm về NSNN: thứ nhất, NSNN là toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước nằm trong dự toán đã được quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Thứ hai, các khoản thu, chi này trong một thời gian nhất định có thể là một năm hoặc giai đoạn trung hạn… Trong khi đó, Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 chỉ được thực hiện trong thời hạn 1 năm, tính từ ngày 01 tháng 01 cho đến ngày 31 tháng 12 năm dương lịch đối với thu và đến 31 tháng 01 11 của năm sau (thêm kỳ 13) đối với một số khoản còn nhiệm vụ được chi tính trong ngân sách của năm trước; Thứ ba, các khoản thu, chi này được xây dựng và thực hiện nhằm mục tiêu bảo đảm về mặt tài chính cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Chi ngân sách nhà nước Theo Hoàng Thị Chinh Thon và cộng sự (2010) chi ngân sách được chia ra nhiều thành phần khác nhau, mỗi thành phần lại có tác động khác nhau tới tăng trưởng kinh tế. Trong quyết toán chi ngân sách, các nước thường chia ra ba thành phần chính: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên; các khoản chi khác (chi từ nguồn tăng thu cân đối, chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, chi cải cách tiền lương, các khoản chi được quản lý qua NSNN, chi trả nợ, chi khác và dự phòng).
Chi đầu tư phát triển tạo thêm năng lực sản xuất cho nền kinh tế, có tác động dài hạn tới tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, chi đầu tư phát triển có đặc thù là có độ trễ về thời gian (việc thực hiện các hạng mục công trình của dự án cần thời gian dài nhất là thực hiện xây dựng các công trình như xây dựng trường để đạt chuẩn quốc gia, các công trình thủy lợi, dự án khu dân cư…), vốn đầu tư nằm tồn đọng trong giai đoạn tiến hành dự án đầu tư. Có thể ảnh hưởng của đầu tư phát triển trong năm (giai đoạn đang xét) là tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên không thể kết luận ngay là phải cắt giảm thành phần này mà phải căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia hay các chương trình của chính phủ. Chi thường xuyên là các khoản chi để duy trì hoạt động của bộ máy hành chính, hay các khoản chi xuất hiện hàng năm.
Khoản chi thường xuyên đảm bảo cung cấp hàng hoá - dịch vụ về hành chính, pháp luật…tạo môi trường vĩ mô cho hoạt động sản xuất, đầu tư, kinh doanh cho các doanh nghiệp Ngân sách nói chung và chi ngân sách nói riêng phải gắn với chính sách kinh tế gắn với mục tiêu phát triển kinh tế trung và dài hạn. Để thúc đẩy tăng trưởng, việc chi tiêu ở cấp chính quyền nào cũng là điều cần cân nhắc. Phân cấp tài khoá, chuyển sức mạnh của chính quyền cấp trên tới chính quyền cấp dưới, là một phần trong nhóm giải pháp cải cách khu vực công, tăng tính cạnh tranh của các chính quyền cấp dưới trong việc cung cấp hàng hoá dịch vụ công và thoát khỏi tình trạng tăng trưởng kinh tế chậm (Bahl & Linn, 1992). Theo nghĩa rộng, chi tiêu công là một khái niệm đơn giản: nó biểu thị sự phân bổ của nhà nước, trên các tiêu chí phi thị trường, đối với các nguồn lực kinh tế mà nó có được từ các công ty và hộ gia đình.
Ngay từ cái nhìn đầu tiên, điều này có thể phản ánh một khái niệm đơn giản. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra sự phức tạp của việc lý thuyết hóa khái niệm 12 này.