phần mở đầu, kết cấu của luận án gồm 5 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan về cấu trúc vốn và vốn luân chuyển tác động đến hiệu quả quản trị tài chính doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng cấu trúc vốn vốn luân chuyển và quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Dữ liệu nghiên cứu mô hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án Chƣơng 4: Kiểm định sự ảnh hƣởng của cấu trúc vốn và vốn luân chuyển tác động đến hiệu quả quản trị của doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 5 : Kết luận 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN VỐN LUÂN CHUYỂN TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Nội dung chính của chƣơng là tổng quan lý thuyết về cấu trúc vốn, vốn luân chuyển, hiệu quả quản trị tài chính, các khung lý thuyết đƣợc xây dựng nhằm giải thích cấu trúc vốn tác động đến hiệu quả quản trị tài chính và vốn luân chuyển tác động đến hiệu quả quản trị tài chính. Trên cơ sở khung lý thuyết đƣợc tóm tắt, tác giả đã tiến hành tổng kết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về hai yếu tố cấu trúc vốn và vốn luân chuyển tác động đến hiệu quả quản trị tài chính của các công ty trên thế giới và nghiên cứu tại Việt Nam.1 LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN, VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cấu trúc vốn 1. Khái niệm Theo Macguigan và cộng sự (2006) định nghĩa: “Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn tối ưu là sự kết hợp giữa nợ, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Tại cấu trúc vốn làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp thì tổng giá trị doanh nghiệp là lớn nhất”. Còn theo Firer và các cộng sự (2012) thì cấu trúc vốn là đề cập đến sự pha trộn của nợ và vốn chủ sở hữu mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp đó. Cấu trúc vốn tối ƣu hay tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tối ƣu đạt đƣợc khi giá trị của doanh nghiệp đƣợc tối đa hóa trong quan hệ chi phí sử dụng vốn là tối thiểu. Còn ở Việt Nam, theo Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2013), cấu trúc vốn đƣợc định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thƣờng xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ƣu đãi và vốn cổ phần thƣờng đƣợc sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp.
Hoặc theo Nguyển Minh Kiều (2014), cấu trúc vốn là quan hệ tỷ 9 trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hầu hết là các doanh nghiệp chƣa niêm yết, nợ ngắn hạn chiếm trên 90% trong tổng nợ. Vì lý do này, luận án sử dụng khái niệm cấu trúc vốn theo Firer và cộng sự (2012) và có điều chỉnh phù hợp với đặc thù các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhƣ sau: “Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả (bao gồm nợ ngắn hạn và dài hạn) mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp đó”. Với khái niệm này, các nguồn vốn tài trợ cho một doanh nghiệp đƣợc chia thành hai loại, đó là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
- Đối với nợ phải trả, là khoản tín dụng doanh nghiệp phải cam kết thanh toán lại với các chủ nợ số nợ gốc và các khoản chi phí sử dụng vốn theo thời hạn quy định. Nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. + Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm. Nợ ngắn hạn thƣờng có chi phí sử dụng vốn thấp nhƣng thƣờng tạo ra một áp lực thanh toán đối với doanh nghiệp và thƣờng đƣợc sử dụng để đầu tƣ vào các tài sản ngắn hạn.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 , nợ ngắn hạn đƣợc trình bày trên bảng cân đối kế toán bao gồm khoản vay ngắn hạn, các khoản phải trả thƣơng mại và phải trả ngắn hạn khác, thuế và các khoản phải nộp Nhà nƣớc, dự phòng phải trả ngắn hạn. + Nợ dài hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong thời gian lớn hơn một năm hay nhiều chu kỳ kinh doanh. Nợ dài hạn thƣờng đƣợc sử dụng để đầu tƣ vào các tài sản dài hạn. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21, nợ dài hạn đƣợc trình bày trên bảng cân đối kế toán bao gồm vay dài hạn, các khoản phải trả thƣơng mại và phải trả dài hạn khác, dự phòng phải trả dài hạn.
- Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, ngƣời chủ sở hữu vốn chỉ kỳ vọng vào lợi ích đƣợc mang lại từ hiệu quả hoạt động cuối cùng của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu thể hiện phần tài trợ của ngƣời chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Vì vậy, xét về khía cạnh tự chủ về tài chính, nguồn vốn này thể hiện năng lực vốn có của ngƣời chủ sở 10 hữu trong tài trợ hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21, vốn chủ sở hữu đƣợc trình bày trên bảng cân đối kế toán bao gồm phần sở hữu của cổ đông thiểu số, vốn góp, các khoản dự trữ và lợi nhuận chƣa phân phối.1 Chỉ tiêu đo lƣờng cấu trúc vốn Chỉ tiêu Công thức Ý nghĩa Mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, tức là nợ chiếm Tỷ số nợ Tổng nợ / tổng tài sản bao nhiêu % trong tổng nguồn vốn (DA) bình quân (hay tài sản) của doanh nghiệp (tài sản bằng nguồn vốn).
Mức độ sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, tức là Tỷ số nợ Nợ ngắn hạn / tổng tài sản nguồn vốn ngắn hạn chiếm bao nhiêu ngắn hạn bình quân % trong tổng nguồn vốn (hay tài sản) (SDA) của doanh nghiệp (tài sản bằng nguồn vốn). Mức độ sử dụng nợ dài hạn để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, tức là nợ Tỷ số nợ dài Nợ dài hạn / tổng tài sản chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn hạn (LDA) bình quân vốn (hay tài sản) của doanh nghiệp (tài sản bằng nguồn vốn). Nguồn: Wild và các tác giả, (2004); Nguyễn Minh Kiều, (2014), Trần Ngọc Thơ và các tác giả, (2007). Lý thuyết về cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống Nghiên cứu của tác giả Durand (1952), đây là nghiên cứu đầu tiên về cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Nghiên cứu này cho rằng giá trị của doanh nghiệp bị tác động bởi cấu trúc vốn của chính doanh nghiệp đó. Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn cho rằng khi một doanh nghiệp bắt đầu vay mƣợn thì thuận lợi vƣợt trội hơn bất lợi. Chi phí nợ thấp hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cộng với thuận 11 lợi về thuế sẽ khiến chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu tăng, tác động của tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn buộc các chủ sở hữu yêu cầu tăng lợi tức của họ, nghĩa là chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tăng.
Ở mức tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợ cũng tăng cao bởi vì khả năng doanh nghiệp không trả đƣợc nợ cũng tăng cao, tức nguy cơ phá sản cao hơn. Do đó, chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền cũng sẽ tăng cao. Quan điểm truyền thống không có lý thuyết nào thể hiện chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ. Do đó, lý thuyết cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống tƣơng đối đơn giản hơn so với các lý thuyết cấu trúc vốn khác.
Lý thuyết này chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa chi phí sử dụng vốn của nợ vay và chi phí sử dụng vốn của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, điểm sáng của lý thuyết này là cũng phản ánh đƣợc sự tác động của cấu trúc vốn lên giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết cấu trúc vốn theo quan điểm hiện đại Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (M&M). Cấu trúc vốn không tác động đến giá trị của doanh nghiệp (M&M, 1958) Modilligani và Miller (M&M) (1958) đã tìm hiểu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm nợ vay bên ngoài.
M&M đã đƣa ra một số giả định về thị trƣờng vốn hoàn hảo: Không có chi phí giao dịch; Tất cả các nhà đầu tƣ có thể vay hay cho vay với cùng một lãi suất; không có chi phí phá sản và chi phí kiệt quệ tài chính; giả định loại rủi ro là đồng nhất tức các doanh nghiệp hoạt động dƣới điều kiện tƣơng tự sẽ có cùng mức độ rủi ro kinh doanh; Không có thuế thu nhập. Nếu thị trƣờng vốn là hoàn hảo, M&M cho rằng các doanh nghiệp kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hằng năm giống nhau thì phải có giá trị giống nhau, bất chấp cấu trúc vốn bởi giá trị của doanh nghiệp phải phụ thuộc vào các hoạt động của nó chứ không phụ thuộc vào hình thức cấp vốn. Từ đây có thể đƣa ra kết luận là tất cả những công ty có tiền lời mong đợi giống nhau và 12 giá trị giống nhau cũng phải có chi phí sử dụng vốn bình quân giống nhau ở mọi mức độ tỷ lệ nợ và vốn chủ sở hữu. Mặc dù những giả định về thị trƣờng vốn hoàn hảo không có thực nhƣng có 02 giả thiết cần đƣợc nhấn mạnh vì những giả thiết này có tác động đến kết quả nghiên cứu của M&M: (i) Không có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và là một trong những thuận lợi then chốt của nợ là tác động của lá chắn thuế; (ii) Nguy cơ trong lý thuyết của M&M đƣợc tính toán hoàn toàn bởi tính biến động của các luồng tiền.
M&M bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ.