Chương 1: Lý luận cơ bản về hệ thống BHXH và sự tăng trưởng kinh tế bền vững Chương 2: Thực trạng và vai trò của hệ thống BHXH đến sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của hệ thống bảo hiểm xã hội đến sự tăng trưởng kinh tế bền vững 12 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ SỰ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ BỀN VỮNG 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm BHXH ra đời xuất phát từ nhu cầu khách quan của con người bảo vệ bản thân và gia đình trước những rủi ro xảy ra trong cuộc sống. Sự ra đời của BHXH là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản khi không may bị rủi ro trong quá trình lao động như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động và chết.
BHXH đã xuất hiện và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại. Cộng hòa Liên bang Đức là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ BHXH ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH. Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi BHXH là bộ phận chính cấu thành hệ thống ASXH, là chính sách xã hội quan trọng của mỗi nước. Tuy nhiên, khó có một khái niệm chung về BHXH được tất cả các quốc gia thống nhất sử dụng bởi quan niệm về vấn đề này như thế nào phụ thuộc vào nhận thức của người dân, của nhà nước, của tập quán lựa chọn và khả năng quản lý của mỗi loại rủi ro trong từng nước.
Tổ chức Lao động Quốc tế (2013) đã đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già, chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Ở góc độ tài chính, BHXH được định nghĩa là quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng NLĐ dựa trên cơ sở đóng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật. 13 Tiếp cận dưới góc độ pháp luật: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” (Luật BHXH, 2014). Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về BHXH, nhưng đều cho thấy những đặc điểm chung sau: BHXH mang tính xã hội cao, không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho NLĐ khi họ gặp phải sự kiện bảo hiểm hoặc rủi ro và có sự bảo hộ của Nhà nước.
BHXH mang bản chất xã hội, nhưng cũng có tính kinh tế thể hiện ở chỗ nó mang lại lợi ích cho NLĐ, NSDLĐ và toàn bộ nền kinh tế, mục đích kinh tế và mục đích xã hội luôn luôn được thực hiện đồng thời, đan xen lẫn nhau, là hai mặt không thể tách rời của BHXH. Để thực hiện BHXH cần có vai trò của Nhà nước trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực hiện, đặc biệt là bảo trợ cho quỹ BHXH; NLĐ, NSDLĐ tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ BHXH. Trên cơ sở kế thừa và phân tích các vấn đề nêu trên, tác giả cho rằng BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động hoặc phát sinh khác cần được hỗ trợ dựa trên cơ sở hình thành quỹ tài chính dưới sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự bảo hộ của Nhà nước nhằm ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời gióp phần đảm bảo ASXH. BHXH có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, chủ thể tham gia và phương thức tham gia BHXH.
BHXH được phân theo 2 loại hình gồm: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Theo đó: “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia”; “BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất” (Luật BHXH, 2014). Bản chất của BHXH BHXH là một bộ phận trong hệ thống ASXH có ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế, xã hội, chính trị của quốc gia. Mục đích hoạt động của BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục tiêu ASXH.
Bản chất chính của BHXH được thể hiện ở những nội dung sau: - BHXH mang tính xã hội, nhằm giải quyết các nhu cầu xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh. - BHXH luôn luôn nhằm vào đối tượng quan trọng nhất của xã hội là lực lượng lao động. - BHXH là bảo hiểm thu nhập của NLĐ, cho các trường hợp mất hoặc giảm thu nhập khi những rủi ro xảy ra đối với thu nhập của NLĐ trong lao động như: ốm đau, tai nạn, thất nghiệp, tuổi già. Như vậy, BHXH là chỉ bảo hiểm thu nhập từ lao động của NLĐ, trong đó NLĐ được hưởng lương theo chế độ tiền lương do nhà nước quy định thì bảo hiểm theo tiền lương; NLĐ hưởng tiền lương do NSDLĐ quyết định thì theo tiền lương đã ký kết trong hợp đồng lao động.
- BHXH mang bản chất xã hội nhưng cũng có tính kinh tế, thể hiện ở chỗ nó mang lại lợi ích cho NLĐ, người SDLĐ và toàn bộ nền kinh tế. - BHXH còn mang tính pháp lý vì nhà nước xây dựng, ban hành áp dụng và kiểm tra, giám sát các hoạt động BHXH. Vai trò của BHXH Thứ nhất, BHXH bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ. Đối tượng bảo hiểm của BHXH là thu nhập của NLĐ, do đó BHXH có chức năng cơ bản là đảm bảo bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ.
Khi mức lương hoặc thu nhập được bảo hiểm của NLĐ bị giảm hay bị mất vì ốm đau, thai sản, tai nạn nghề nghiệp, thất nghiệp, tuổi già. NLĐ sẽ được cơ quan tổ chức thực hiện BHXH chi trả một khoản trợ cấp tương quan với mức thu nhập mà NLĐ đã đóng. Mức trợ cấp này sẽ giúp NLĐ và thân nhân ổn định tài chính để chi trả cho những nhu cầu thiết yếu, giúp họ hồi phục sức khỏe cho đến khi trở lại làm việc và tiếp tục được nhận lương từ NSDLĐ. Khi đã phát triển đến một mức độ nhất định, BHXH còn bù đắp cho phần chi phí do các nhu cầu tăng thêm của sự kiện BHXH; như trợ cấp thêm khi sinh 15 con, cấp phát phương tiện trợ giúp sinh hoạt cho người bị thương tật,.
Như vậy, BHXH trước hết phải thực hiện chức năng đảm bảo bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của NLĐ trong những trường hợp cần thiết. Chỉ khi thực hiện tốt chức năng này, BHXH mới thực sự là hình thức bảo hiểm thiết thực với NLĐ, có sức cuốn hút, thuyết phục họ tham gia rộng rãi và trở thành lưới an toàn đầu tiên trong chính sách ASXH của mỗi quốc gia. Thứ hai, BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH, NLĐ và NSDLĐ phải đóng một tỷ lệ nhỏ trong tương quan với tiền lương/thu nhập của NLĐ vào quỹ BHXH.
Quỹ này được sử dụng để chi trả cho mọi người tham gia bảo hiểm khi họ gặp rủi ro xảy ra trong quá trình lao động. Thông qua đó, BHXH đã thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập, chia sẻ rủi ro trong cộng đồng giữa người khỏe mạnh cho người ốm đau tai nạn; người trẻ với người già; người có việc làm với người thất nghiệp; giữa những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời một người. Như vậy, thu nhập của NLĐ được phân phối lại theo nhiều chiều, trên cả bình diện không gian và thời gian. Để công bằng giữa những người tham gia đóng góp, mức đóng của từng NLĐ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức hưởng BHXH.
NLĐ đã đóng BHXH trên một mức lương/thu nhập nào đó, khi mức lương/thu nhập này bị giảm hay bị mất thì BHXH phải đảm bảo cho người tham gia hưởng mức sao cho có thể bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập bị mất. Ngoài ra, trong các chế độ dài hạn, mức hưởng bảo hiểm còn phải dựa trên thời gian đóng bảo hiểm. Tuy nhiên, do mục đích chia sẻ cộng đồng, phân phối lại nên không phải NLĐ đóng bảo hiểm bao nhiêu thì sẽ được hưởng bấy nhiêu. Vì thế trong tương quan với tiền lương, các hệ thống BHXH thường thiết kế sao cho mức thu nhập được bảo hiểm không thể cao hơn, thậm chí phải thấp hơn mức lương khi đang làm việc.
Điều này cũng sẽ khuyến khích NLĐ tích cực lao động sản xuất, không ỷ lại hay lạm dụng chế độ bảo hiểm để nghỉ việc. Bên cạnh đó, mức hưởng còn phụ thuộc vào mức độ rủi ro mà NLĐ gặp phải cũng như một số yếu tố khác như khác biệt về điều kiện làm việc, điều kiện sinh sống, giới tính. 16 Thứ ba, BHXH góp phần kích thích nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. NLĐ có quan hệ lao động phần lớn sở hữu tư liệu sản xuất duy nhất là sức lao động.
Tham gia BHXH là biện pháp hữu hiệu để NLĐ và NSDLĐ tích lũy một khoản tiền nhỏ, đều đặn trích từ tiền lương, tiền công nhận được khi còn khỏe mạnh; và được nhận trợ cấp tương quan với mức đóng, thời gian đóng, mức độ rủi ro khi không may gặp rủi ro trong quá trình lao động. Điều đó giúp NLĐ luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc, tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.