Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THU HÚT NGUỒN VỐN FDI CỦA NHẬT BẢN NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI QUẢNG NINH 1. Các nghiên cứu về thu hút vốn FDI của Nhật Bản Nguyễn Thị Ngọc Yến (2021) trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn đã khẳng định thu hút FDI có vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Luận án phân tích thực trạng thu hút FDI Nhật Bản vào Việt Nam từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đến nay và phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới dòng vốn FDI Nhật Bản vào Việt Nam; Từ đó đánh giá tác động của FDI Nhật Bản đến nền kinh tế Việt Nam từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đến nay. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút hiệu quả FDI Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian tới (2022 – 2030).
Lê Hùng Sơn, 2020, đã phân tích thực trạng thu hút vốn FDI vào tỉnh Quảng Ninh; đánh giá những kết quả thu hút vốn FDI vào tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2010-2019. Luận án sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA, mô hình cấu trúc tuyến tính dựa trên bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM) để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI vào tỉnh Quảng Ninh thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính với “Ý định đầu tư” là biến phụ thuộc và 6 biến độc lập là 6 nhóm nhân tố hội tụ từ rất nhiều quan sát gồm: “cơ sở hạ tầng”, “chính sách thu hút”, “nguồn nhân lực”, “lợi thế vị trí”, “môi trường sống” và “chất lượng dịch vụ công”. Và rút ra được kết luận về sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tố cũng như của ảnh hưởng của các biến quan sát. Nghiên cứu cũng làm rõ quan điểm, mục tiêu, định hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các 11 nhóm giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn FDI vào tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh mới.
Nguyễn Huy Hoàng (2012) nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam dựa trên các số liệu thứ cấp. Nghiên cứu đã phân tích cơ hội, thách thức đối với việc thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam, trên cơ sở đó đánh giá những ưu nhược điểm, tìm ra nguyên nhân các tồn tại và đề xuất một số giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI Nhật Bản vào Việt Nam. Phạm Đăng Hưng (2009) đã khai thác khía cạnh các công ty xuyên quốc gia của Nhật Bản và các hoạt động đầu tư của các công ty Nhật Bản ở Việt Nam. Các công ty trong nghiên cứu chỉ ra đều là các công ty thương mại.
Tuy nhiên nghiên cứu cũng chưa chỉ ra được những điểm khác biệt, cũng như vai trò của dòng vốn FDI Nhật Bản so với các dòng vốn khác. Vũ Văn Hà (2013) đã nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nghiên cứu chỉ ra rằng, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), dự án liên doanh, liên kết tại Việt Nam bị rút vốn hoặc chậm tiến độ đầu tư, nhưng những dự án đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam sau nhịp sụt giảm năm 2009, thì từ năm 2010 đến nay tiếp tục gia tăng, mở ra nhiều hy vọng mới trong thu hút đầu tư tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đối với các nhà đầu tư Nhật Bản, Việt Nam vẫn là một điểm đến an toàn, kinh tế có tăng trưởng, có thị trường hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới với sáu lý do: (1) Việt Nam có rất nhiều tiềm năng tăng trưởng; (2) Việt Nam có nguồn lao động dồi dào; chính sách, môi trường đầu tư tích cực; (3) người Việt Nam ham học hỏi và chăm chỉ, cần cù, chi phí nhân công có sức cạnh tranh và lực lượng lao động trẻ, được đào tạo tốt và ngày càng được nâng cao về chất lượng; (4) Việt Nam và Nhật Bản đã xác lập quan hệ kinh tế bằng đồng yên chứ không 12 quy ra đồng tiền khác nên doanh nghiệp Nhật Bản sang đầu tư tại Việt Nam không sợ đồng tiền của họ bị mất giá… (5) Sự gia tăng tiền lương tại Trung Quốc và Thái Lan khiến các nhà đầu tư tìm kiếm địa điểm mới có chi phí nhân công phù hợp.
Việt Nam chính là một trong các địa chỉ mà doanh nghiệp Nhật Bản lựa chọn; (6) Nhật Bản tìm đường đầu tư ra nước ngoài bởi vì kinh tế Nhật Bản tăng trưởng chậm từ nhiều năm qua; tình trạng dân số già hóa của Nhật Bản cộng với các vụ thiên tai liên tiếp như sóng thần, động đất… cũng góp phần vào quyết định đầu tư ra nước ngoài của giới doanh nhân Nhật Bản. Các nghiên cứu về tăng trưởng xanh ở Việt Nam Tại Diễn đàn “Phát triển năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế vào Việt Nam”, PGS. Bùi Quang Tuấn (2021) đã nhận định về tăng trưởng xanh ở Việt Nam trong bối cảnh mới. Tác giả cho rằng: Chiến lược tăng trưởng xanh trong giai đoạn tới cần phải đảm bảo nguồn nhân lực, đồng thời coi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là trụ cột quan trọng nhất.
Trong bối cảnh mới, Việt Nam đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu và tác động ngày càng tăng, ô nhiễm ngày càng trầm trọng, nhiều vấn đề môi trường trở nên nghiêm trọng, bên cạnh đó Việt Nam tiếp tục phải thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững. Do vậy, chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn tới cần phải chú ý khắc phục các khiếm khuyết của giai đoạn trước để có cơ hội thành công trong đó có huy động nguồn lực, đảm bảo nguồn nhân lực, sự kết nối và đặc biệt là coi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là trụ cột quan trọng nhất của giai đoạn tới. Nguyễn Thu Hằng (2020), đánh giá hoạt động thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2000-2017. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững; trong đó làm rõ nhóm các nhân tố thuộc về nhà nước trung 13 ương, nhóm các nhân tố thuộc về nhà nước địa phương và nhóm các nhân tố thuộc về doanh nghiệp; tổng hợp và đề xuất được bộ tiêu chí đánh giá tác động của FDI đến sự phát triển bền vững của một vùng lãnh thổ (quốc gia/địa phương) về cả 3 trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường.
Phạm Thị Hạnh (2019), đã làm rõ cơ sở lý luận về phát triển NNL ngành công nghiệp đáp ứng yêu cầu TTX. Hệ thống hoá các tiêu chí đánh giá sự phát triển NNL ngành công nghiệp đáp ứng yêu cầu TTX; đồng thời phân tích và đánh giá rõ thực trạng phát triển NNL ngành công nghiệp đáp ứng yêu cầu TTX của thành phố Đà Nẵng, đã phân tích rõ một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển của NNL này. Từ đó, đề xuất giải pháp đồng bộ và phù hợp nhằm phát triển Nguồn nhân lực (NNL) ngành công nghiệp của thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng xanh (TTX) trong bối cảnh của ngành công nghiệp tại Đà Nẵng hiện nay. Theo Song và cộng sự (2019), hiện nay nhiều quốc gia chuyển từ chỉ theo đuổi tăng trưởng kinh tế sang phương thức tăng trưởng kinh tế xanh để bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Nghiên cứu tính toán GDP xanh của Trung Quốc và tốc độ tăng trưởng của nước này, đồng thời nghiên cứu tác động của mở cửa kinh tế và đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế xanh. Bài viết áp dụng mô hình tăng trưởng nội sinh kinh tế mở thiết lập cho tăng trưởng xanh. Kết quả cho thấy độ mở kinh tế và tăng trưởng xanh có mối quan hệ hình chữ U âm phi tuyến. Mặc dù quy mô đầu tư cho R&D không có lợi cho tăng trưởng kinh tế xanh trong ngắn hạn, nhưng nó có tác động tích cực đến tăng trưởng xanh.
Nghiên cứu cũng chỉ ra tình trạng ô nhiễm gia tăng do mở cửa kinh tế ở các khu vực là không đồng nhất: không đáng kể (khu vực phía Đông), hình chữ U tích cực (khu vực miền Trung) và hình chữ U tiêu cực (khu vực phía Tây). Tác động của quy mô R&D đối với tăng trưởng là tích cực trong thời gian dài, nhưng lại có tác động tiêu cực ở khu vực miền Đông và miền Tây trong giai 14 đoạn hiện nay. Do đó, ngoài việc tăng cường mở cửa kinh tế và đầu tư cho R&D cần tập trung vào việc điều phối phát triển khu vực để đạt được tăng trưởng xanh. Trên cơ sở xem xét thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin (CNTT) ở Việt Nam tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2019) đã chỉ chỉ ra được một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, cùng với tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn làm căn cứ và cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp giải pháp chủ yếu để nâng cao vai trò và gia tăng thêm đóng góp của CNTT trong thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam.
Lê Trường Giang (2018) đã phân tích cơ chế chính sách và thực trạng sử dụng nhiên liệu sạch trong ngành giao thông vận tải để thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam qua đó chỉ ra được một số thành công và hạn chế trong lĩnh vực này; đề xuất các giải pháp chính sách để khuyến khích sử dụng nhiên liệu sạch nói chung và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam góp phần vào việc giải quyết bài toán về phát triển nhiên liệu sạch, thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam. Đỗ Phú Hải (2018) đã làm sáng tỏ sự tương đồng và sự khác biệt, tính phổ quát và đặc thù trong lý luận phát triển bền vững và tăng trưởng xanh, kinh tế xanh và ứng phó biến đổi khí hậu. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và công cụ chính sách xanh trong quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách công để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.