Nghiên Cứu Về Sự Tham Gia Xã Hội Của Người Lao Động Nước Ngoài Sau Khi Trở Về Nước

Luận văn thạc sĩ phân tích sự tham gia xã hội của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về nước nghiên cứu trường hợp một, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

233
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài

0.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

0.5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

0.6. Khung phân tích của luận án

0.7. Đóng góp mới và hạn chế của luận án

0.8. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN SỰ THAM GIA XÃ HỘI CỦA NGƯỜI ĐI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TRỞ VỀ

1.1. Những nghiên cứu về sự tham gia xã hội

1.2. Những nghiên cứu về sự tham gia kinh tế và xã hội của người đi lao động nước ngoài trở về

1.2.1. Nghiên cứu về động cơ trở về của người đi lao động nước ngoài

1.2.2. Các nghiên cứu về tham gia hoạt động kinh tế của người đi lao động nước ngoài trở về

1.2.3. Những nghiên cứu về quá trình tái hòa nhập xã hội của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Các khái niệm cơ sở

2.1.1. Khái niệm người đi lao động nước ngoài

2.1.2. Khái niệm người đi lao động nước ngoài trở về

2.1.3. Sự tham gia xã hội

2.2. Các lý thuyết vận dụng trong luận án

2.2.1. Quan điểm về tham gia xã hội dưới góc độ cấu trúc chức năng

2.2.2. Quan điểm về sự tham gia xã hội dưới góc độ vốn xã hội

2.2.3. Quan điểm về sự tham gia xã hội dưới góc độ xã hội hóa

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp phân tích tài liệu

2.3.2. Phương pháp phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp

2.3.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.4.1. Một số nét cơ bản về tình hình người đi lao động nước ngoài tại tỉnh Nghệ An

2.4.2. Đặc điểm của địa bàn khảo sát

3. CHƯƠNG 3: SỰ THAM GIA HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA NGƯỜI ĐI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TRỞ VỀ

3.1. Một số đặc điểm xã hội của người lao động khi làm việc ở nước ngoài

3.2. Việc làm, thu nhập khi lao động ở nước ngoài

3.3. Trình độ học vấn của người lao động

3.4. Đời sống hôn nhân, gia đình tại thời điểm đi lao động nước ngoài và sau khi trở về

3.5. Hoạt động kinh tế của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

3.6. Tham gia học nghề của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

3.7. Việc làm của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

3.8. Những khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

3.9. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tìm kiếm việc làm của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

3.10. Thu nhập của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

3.11. Mức độ hài lòng về công việc và thu nhập của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

3.12. Mối quan hệ xã hội trong hoạt động kinh tế của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

4. CHƯƠNG 4: SỰ THAM GIA VÀO CÁC NHÓM/TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI ĐI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TRỞ VỀ

4.1. Sự tham gia các nhóm/tổ chức xã hội của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

4.1.1. Gia nhập các nhóm/tổ chức xã hội của người đi lao động nước ngoài trở về

4.1.2. Mối quan hệ tổng hợp giữa người đi lao động nước ngoài trở về và các đoàn thể/nhóm xã hội tại địa phương

4.2. Sự tham gia trong các hoạt động cộng đồng của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

4.2.1. Mức độ tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội tại cộng đồng của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

4.2.2. Tham gia các hoạt động văn hóa, giải trí ở cộng đồng của người đi lao động nước ngoài sau khi trở về

4.2.3. Mức độ gắn kết cộng đồng của người đi lao động ở nước ngoài sau khi trở về địa phương

4.3. Tiểu kết

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về sự tham gia xã hội của lao động hồi hương

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, di cư lao động quốc tế là một xu thế nổi lên, mang lại cơ hội cải thiện việc làm và thu nhập cho nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam. Theo Cục Quản lý Lao động ngoài nước, năm 2017, Việt Nam đã đưa 134.751 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Di cư lao động có thể là một chiến lược nghề nghiệp đúng đắn, giúp cải thiện mức sống, mở rộng cơ hội việc làm và nâng cao chất lượng giáo dục. Di cư lao động quốc tế được xem là một sách lược quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia khi kỹ năng và nguồn lực mà người lao động di cư tích lũy trong thời gian làm việc ở nước ngoài được phát triển một cách hiệu quả khi họ trở về [Dolab, 2012].

1.1. Vai trò của người lao động trở về Việt Nam

Người lao động trở về mang theo kỹ năng và kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài. Điều này có thể thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Họ cũng có thể đóng góp vào trao đổi văn hóa và tăng cường kết nối quốc tế. Việc tái hòa nhập xã hội thành công của họ là rất quan trọng để tận dụng tối đa tiềm năng này. Các chính sách hỗ trợ cần được thiết kế để giúp họ vượt qua những thách thức và khai thác cơ hội.

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu về tái hòa nhập cộng đồng

Nghiên cứu về sự tham gia xã hội của người lao động sau khi trở về Việt Nam giúp hiểu rõ hơn về quá trình tái hòa nhập cộng đồng. Nó cũng giúp xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình này. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chương trình hỗ trợ cộng đồng hiệu quả hơn và thúc đẩy sự phát triển bền vững ở địa phương.

II. Thách thức hòa nhập xã hội cho người lao động hồi hương

Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ta nói chung, thực tế hiện nay Nhà nước cũng như các đơn vị có liên quan mới chỉ tập trung sự quan tâm chú ý đến việc nâng cao nhận thức, các nhu cầu và phúc lợi của những người lao động trước khi họ di cư và trong khi họ làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc tái hòa nhập về kinh tế và xã hội khi họ trở về lại ít được chú ý hơn. Những người di cư lao động trở về có thể phải đối mặt với một loạt các thách thức, bao gồm tình trạng thiếu việc làm, nợ nần, mâu thuẫn trong gia đình, và một số vấn đề liên quan đến sức khỏe [Dolab, 2012].

2.1. Vấn đề việc làm và thu nhập sau khi trở về Việt Nam

Một số nghiên cứu cho thấy người lao động sau khi trở về Việt Nam thường quay lại làm các công việc không có kỹ năng hoặc những công việc họ đã từng làm trước khi di cư. Những công việc này không tương thích với kiến thức hay kỹ năng họ tích lũy trong thời gian làm việc ở nước ngoài [Anna Wang 2015; Cục lãnh sự, 2011; Phạm Nguyên Cường, 2013; IOM, 2014]. Điều này dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc làm việc không hiệu quả.

2.2. Khó khăn về tâm lý và mối quan hệ gia đình

Quá trình hội nhập cộng đồng sau khi trở về Việt Nam có thể gây ra stress, trầm cảm và các vấn đề sức khỏe tâm lý khác. Sự thay đổi về quan điểm sốnggiá trị cũng có thể dẫn đến mâu thuẫn trong mối quan hệ gia đình. Việc thích nghi văn hóa trở lại với môi trường Việt Nam cũng là một thách thức lớn.

2.3. Thiếu chính sách hỗ trợ đầy đủ và hiệu quả

Hiện tại, các chính sách hỗ trợ cho người lao động sau khi trở về Việt Nam còn hạn chế. Thiếu các chương trình đào tạo kỹ năng, tư vấn việc làmhỗ trợ tài chính để giúp họ khởi nghiệp hoặc tìm kiếm cơ hội việc làm phù hợp. Mạng lưới hỗ trợ cộng đồng cũng chưa được phát triển đầy đủ.

III. Phương pháp thúc đẩy tái hòa nhập xã hội Gợi ý hiệu quả

Để giải quyết các vấn đề của người lao động sau khi về nước cần những giải pháp thiết thực. Cần tập trung vào đào tạo, định hướng và hỗ trợ tài chính. Ngoài ra, cần tạo ra các mạng lưới liên kết hỗ trợ để tăng cường sự tham gia xã hội.

3.1. Tăng cường đào tạo kỹ năng và tư vấn việc làm

Cần xây dựng các chương trình đào tạo kỹ năng phù hợp với nhu cầu thị trường lao động trong nước. Đồng thời, cung cấp dịch vụ tư vấn việc làm chuyên nghiệp để giúp người lao động xác định cơ hội việc làm phù hợp và phát triển kỹ năng tìm việc.

3.2. Hỗ trợ khởi nghiệp và đầu tư cho lao động hồi hương

Cần tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ tài chính để khởi nghiệp hoặc đầu tư vào các dự án kinh doanh nhỏ. Cung cấp các khóa đào tạo về quản lý tài chính và kỹ năng kinh doanh để giúp họ thành công.

3.3. Xây dựng mạng lưới hỗ trợ cộng đồng vững mạnh

Cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và doanh nghiệp để xây dựng mạng lưới hỗ trợ cộng đồng toàn diện. Mạng lưới này cần cung cấp các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tâm lý, kết nối với các cơ hội việc làm và tạo điều kiện cho người lao động tham gia các hoạt động xã hội.

IV. Nghiên cứu trường hợp sự tham gia xã hội ở Nghệ An

Nghệ An là một trong những tỉnh có số lượng người đi lao động xuất khẩu cao nhất nước. Riêng năm 2017, số lượng lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng là 13. Hiện, tổng số lao động của tỉnh đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài khoảng 61. Nguồn thu nhập do xuất khẩu lao động chuyển về tỉnh hàng năm ước đạt 255 triệu USD/năm. Qua đó, đã góp phần quan trọng, tích cực trong thực hiện chương trình mục tiêu giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, tạo sự ổn định về an ninh chính trị xã hội trên địa bàn và thúc đẩy Nghệ An phát triển và hội nhập [Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, 2018].

4.1. Đặc điểm lao động hồi hương tại Nghệ An

Nghiên cứu tại Nghệ An cho thấy nhiều người lao động trở về có mong muốn đóng góp cho xã hội. Tuy nhiên, họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm phù hợp và tái hòa nhập cộng đồng. Cần có các chính sách hỗ trợ đặc thù để giúp họ phát huy tiềm năng.

4.2. Vai trò của tổ chức xã hội trong hỗ trợ hội nhập

Các tổ chức xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người lao động tái hòa nhập cộng đồng. Họ cung cấp các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ tâm lý, kết nối với các cơ hội việc làm và tạo điều kiện cho người lao động tham gia các hoạt động xã hội. Cần tăng cường sự hợp tác giữa các tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước để nâng cao hiệu quả hỗ trợ.

V. Đánh giá và đề xuất về Chính sách hỗ trợ người lao động

Cần có những đánh giá thực tế về các chính sách hiện hành, để từ đó có những đề xuất hỗ trợ người lao động phù hợp, giúp họ hòa nhập lại với cộng đồng, và phát huy hết khả năng của mình.

5.1. Đánh giá tính hiệu quả của các Chính sách hiện hành

Cần phải có những đánh giá thực tế về những chính sách hỗ trợ người lao động hiện tại. Từ đó, phát huy những điểm mạnh, và tìm ra những điểm cần khắc phục và phát triển.

5.2. Đề xuất phát triển những Chính sách mới phù hợp

Cần có những chính sách mới nhằm hỗ trợ cho người lao động về tài chính, đào tạo và phát triển kỹ năng. Giúp họ dễ dàng hòa nhập với cộng đồng và có thể phát huy hết khả năng của mình.

VI. Tương lai của sự tham gia xã hội của lao động hồi hương

Sự tham gia xã hội của người lao động sau khi trở về Việt Nam là một vấn đề quan trọng cần được quan tâm và đầu tư. Với những nỗ lực từ chính phủ, các tổ chức xã hội và cộng đồng, người lao động có thể vượt qua những thách thức và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước.

6.1. Hợp tác quốc tế trong vấn đề tái hòa nhập xã hội

Cần tăng cường hợp tác quốc tế để chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi các mô hình hỗ trợ cộng đồng hiệu quả. Các tổ chức quốc tế có thể cung cấp nguồn lực tài chính và kỹ thuật để giúp Việt Nam xây dựng các chương trình tái hòa nhập xã hội toàn diện.

6.2. Vai trò của doanh nghiệp xã hội và tình nguyện

Doanh nghiệp xã hội có thể tạo ra các cơ hội việc làm cho người lao động sau khi trở về Việt Nam. Các hoạt động tình nguyện có thể giúp họ kết nối với cộng đồng và phát triển kỹ năng mềm. Cần khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp và cá nhân vào các hoạt động này.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận án đợc kết cầu trong 4 chong nh sau: - Chong 1: Téng quan các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia xã hội của ngời đi lao động nớc ngoài sau khi trở về 14 - Chơng 2: Cở sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu - Chơng 3: Sự tham gia hoạt động kinh tế của ngời đi lao động nớc ngoài sau khi trở về - Chơng 4: Sự tham gia các nhóm/tô chức xã hội và hoạt động cộng đồng của ngời đi lao động nớc ngoài sau khi trở vê. TONG QUAN CAC NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN SỰ THAM GIA XA HOI CUA NGG]OI DI LAO DONG NG|OC NGOAI TRO VE 1. Những nghiên cứu về sự tham gia xã hội Mặc dù khái niệm sự tham gia xã hội đã đợc thảo luận từ thập niên 1960, tuy nhiên vẫn cha có một định nghĩa thống nhất về sự tham gia xã hội đợc thừa nhận [Barbara, 2012]. Nhiều tác giả vẫn thờng sử dụng khái niệm sự tham gia xã hội và sự tham gia thay thé cho nhau [Cicerone KD va Azulay J, 2007], [Winkle M, Crowe TK va Hendrix I, 2012], [Bowes A va Mc Colgan G, 2013].

Thêm vào đó, một số tác giả cũng sử dụng khái niệm sự tham gia xã hội gần nh là hòa nhập xã hội, hội nhập xã hội và hoạt động xã hội [Koster M, Nakken H, Pijl SJ, Van Houten EJ va Lutje Spelberg HC, 2008]. Trong khi những tác giả đầu tiên xem sự tham gia và sự tham gia xã hội gần nh là tơng đơng thí những tác giả sau này dờng nh có sự phân biệt giữa hai khái niệm trên. Họ xác định đợc ba cách có thể đề cập đến sự tham gia xã hội nh là một chủ thê riêng biệt; chăng hạn nh sự tham gia của ngời tiêu dùng (consumer participation), hoạt động xã hội và các cấp độ tham gia vào trong x4 hdi [Barbara Piskur, 2014]. Quan diém cho rang sự tham gia xã hội đợc coi nh là sự tham gia của ngời tiêu dùng xuất phát từ các tác giả liên quan đến hòa nhập xã hội và phong trào dựa trên quyền (he rights-based movement).

Trong tâm của quan điểm này nhấn mạnh vào việc đóng góp tìch cực cho xã hội. Theo Viện nghiên cứu tham gia xã hội, ba thành phần cốt lõi của khái niệm sự tham gia xã hội mà họ đa ra trên đây đợc dựa trên những nghiên cứu về các hình thức tơng tác xã hội nh: các sách chuyên khảo về khái niệm vốn xã hội, hòa nhập xã hội, quyền tự quyết của cá nhân trong các mô hính tơng tác và trách nhiệm xã hội [Bathgate T và Romios P, 2011, dẫn theo [Barbara Piškur, 2014]. Ở cấp độ cá nhân, một số tác giả cũng có quan 16 điểm nhấn mạnh yếu tố đóng góp cho cộng đồng khi đa ra định nghĩa về sự tham gia xã hội chăng hạn nh quan điểm của tác giả Mars và cộng sự [Mars, 2008, tr.1298] va Lariviere [Lariviere, 2008, tr. Có một số tác giả đã sử dụng khái niệm sự tham gia xã hội đồng nghĩa với hoạt động xã hội, tơng tác xã hội ở trong một vài lĩnh vực nghiên cứu, chăng hạn nh Koster, Shattuck cùng các cộng sự [Koster M, 2009; Shattuck PT, 2011].

Các tác giả này giới hạn sự tham gia xã hội ở những tơng tác giữa các cá nhân, sự tham gia vào các hoạt động hay sự kiện tính nguyện [Commission, 2010], hoặc tham gia các hoạt động với t cách là một thành viên của xã hội [Konlaan BB, 2000], dành thời gian cho các để tham gia các hoạt động xã hội hàng ngày [Maler & Klumb, 2005]. Ngoài ra, một số tác giả khác cho rằng sự tham gia xã hội là những hoạt động đợc diễn ra ở trong và ngoài gia đính, cho phép các cá nhân gặp gỡ những ngời khác, đóng góp cho xã hội và tham gia trực tiếp vào xã hội [Broese Van Groenou và Deeg, 2006]. Hai loại hính hoạt động xã hội đợc phân biệt nh sau: hoạt động sản xuất và vui chơi giải trì. Hoạt động sản xuất xã hội là hoạt động mà các cá nhân đóng góp nguồn lực của mính cho các cá nhân hoặc các nhóm trong cộng đồng thông qua việc tham gia một cách tự nguyện và/hoặc thuộc các tổ chức chình trị và các hiệp hội [Klumb & Baltes, 1999].

Các hoạt động giải trì chủ yếu hớng vào việc cải thiện sức khỏe bản thân của mỗi ngời và sự phát triển độc lập nh các hoạt động nghỉ ngơi và hoạt động về giáo dục. Thêm vào đó, một sỐ tác giả lại nhấn mạnh việc tham gia hoạt động trong các tổ chức dân sự và xã hội [Hyyppä & Mäki, 2003] và [Lindstrom, 2001]. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu chỉ ra rằng khi nghiên cứu về sự tham gia xã hội cần phải gắn liền với sự tơng tác xã hội của cá nhân khi tham gia vào các nhóm xã hội và đời sống xã hội [Wright, 1990; Sourina, 1991; 17 Lindstrom, Hanson, & Ostergren, 2001]. Đồng thời, cá nhân khi tham gia vào các nhóm và các hoạt động xã hội đó thể hiện sự tơng tác xã hội của một ngời đối với những ngời khác — những ngời mang lại cho họ các loại hỗ trợ về mặt tính cảm và các trợ giúp xã hội cụ thể [Utz, Carr, Nesse, Wortman, 2002], [Thompson & Whearty, 2004], [Dalemans, De Witte, Wade, Van den Heuvel, 2008].

Tong tu nh vay, mot số tác giả cho rằng sự tham gia xã hội là các thuận lợi đến từ việc xây dựng và duy trí nhiều mối quan hệ xã hội và việc tham gia vào trong cộng đồng [Del Bono, Sala, Hancock, Gunnell và Parisi, 2007]. Một số nhà nghiên cứu khác đa ra quan điểm cho rằng sự tham gia xã hội là trải nghiệm mang tình tìch cực về các khìa cạnh nh 1) các liên hệ và hành động xã hội, 2) công việc và sự hỗ trợ không chình thức, 3) các hoạt động văn hóa cũng nh các sự kiện công cộng, 4) chình trị và truyền thông có các liên hệ xã hội; sự đóng góp các nguồn lực cho xã hội hoặc nhận các nguồn lực từ xã hội [Mars và cộng sự, 2008]. Ngoài ra, Cục thống kê Australia khi nghiên cứu về sự tham gia xã hội đã có những nghiên cứu cụ thể về sự tham gia xã hội của nhóm ngời lao động di c. Kết quả chỉ ra sự tham gia xã hội và kết nối xã hội ở mức độ cao đợc cho là góp phần vào phúc lợi chung của cá nhân và cộng đồng của họ.

Cơ hội tham gia xã hội và tơng tác xã hội có thể đợc nhận diện thông qua việc tham gla vào công việc đợc trả lơng và không đợc tra long, tham gia hoạt động văn hóa và giải trí [Australian Bureau of Statistics, 2004]. Họ đã có sự so sánh với những ngời bản địa với ngời di c về sự tham g1a các hoạt động xã hội, kết quả cho thấy cả ngời đi c và ngời sinh ra ở Úc đều đợc hởng lợi và đóng góp cho xã hội Úc thông qua việc tham gia vào các hoạt động xã hội. Tham gia vào lực lợng lao động và tham gia vào các hoạt động xã hội mang đến cho mọi ngời cơ hội hòa nhập cộng đồng một cách 18 rộng lớn hơn và xây dựng mạng lới hỗ trợ xã hội, từ đó góp phần nâng cao ý thức cộng đồng [Trends, 2008]. Một số nghiên cứu đã chú trọng làm rõ những yếu tố tác động đến sự tham gia xã hội.

Đó là: những thay đổi trong suốt cuộc đời của cá nhân, bao gồm các sự kiện trong cuộc sống (vi du nh vé hu, tir vong hoặc bệnh tật giữa bạn bè và gia đính, di chuyển chễ ở.), điều kiện sức khỏe và tình trạng kinh tế xã hội có thể ảnh hởng đến các mô hình tham gia xã hội [Ashida và Heaney, 2008]. Một nhóm nghiên cứu thực hiện dự án về sự tham gia nh tác giả Brodie và các cộng sự (2009) [trích dẫn theo Nguyễn Quý Thanh, 2016] cho rằng động cơ của sự tham gia cần phải đợc xem xét từ ba góc độ: động cơ tâm lý; đặc điểm xã hội và các yếu tố liên quan đến môi trờng. Bên cạnh đó, tác giả Taylor (1992) [trích dẫn theo Nguyễn Quý Thanh, 2016] đã xác định yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa ảnh hởng đến việc ngời dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Những yếu tố này bao gồm: mong muốn đợc tham gia vào các hoạt động chung; hỗ trợ lẫn nhau; tăng cờng bản sắc cộng đồng; và giúp cho cá nhân có cảm giác thân thiết.

Thêm vào đó, nhiều đặc điểm kinh tế, xã hội và nhân khẩu học liên quan đến sự tham gia của xã hội của nhóm công nhân làm việc toàn thời gian đã đợc xác định trong nhiều nghiên cứu [Putnam, 2000], [Selbee, 2006], [Musick, 2008], [Crompton, 2012]. Musick và cộng sự [Musick, 2008] đã chỉ ra thời gian làm việc, trính độ học van, mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái, quy mô và tính đa dạng của mạng lới xã hội, thực hành tôn giáo đều có ảnh hỏng đến sự tham gia xã hội. Tac gia Martin Turcotte va Stéphanie Gaudet [Martin, 2013] cũng xem xét những đặc điểm này, và phát hiện thêm yếu tổ về tinh linh hoạt của điều kiện làm việc có ảnh hởng đến sự tham gia hoạt động tình nguyện của công nhân. 19 Mặt khác, một số tác gia cho rằng đề có thể phân tích cặn kẽ những yếu tố ảnh hởng tới sự tham gia xã hội của cá nhân, không thể không đề cập đến sự tham gia về kinh té.

Mc Clure cho rang “Sự tham gia xã hội và kinh tế” nói đến một chuỗi cách thức con ngời đóng góp và tham gia vào cuộc sống cộng đồng. Nhóm có thấm quyền đối với cải cách phic loi [McClure, 2000] đã làm sáng tỏ tầm quan trọng của sự tham gia xã hội và cả sự tham gia kinh tế. Bên cạnh đó, Flood khẳng định sự tham gia kinh tế có thể tăng cờng sự tham gia xã hội khi con ngời phát triển những mạng lới hỗ trợ thông qua công việc, kinh doanh hay việc học tập của mính. Ngợc lại, giảm sự tham gia kinh tế thờng làm giảm sự tham gia xã hội, đặc biệt là đối với đàn ông, nh đã thảo luận trong nghiên cứu mô tả sự cô đơn ở Australia [Flood, 2005].

Nam giới đợc trả nhiều giờ làm việc hơn sẽ tăng mức độ hỗ trợ và tình bạn trong khi phụ nữ dù làm công việc bán thời gian hay toàn thời gian thì mức độ hỗ trợ và tình bạn của họ cũng nh nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Sự Tham Gia Xã Hội Của Người Lao Động Nước Ngoài Sau Khi Trở Về Việt Nam" khám phá những khía cạnh quan trọng của việc người lao động nước ngoài tham gia vào xã hội Việt Nam sau khi trở về. Tài liệu này không chỉ nêu bật những thách thức mà họ phải đối mặt, mà còn chỉ ra những cơ hội để họ hòa nhập và đóng góp cho cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức hỗ trợ và tạo điều kiện cho người lao động nước ngoài, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững cho xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chính sách an sinh xã hội và các giải pháp giảm nghèo, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ hoàn thiện an sinh xã hội tại thành phố đồng hới tỉnh quảng bình". Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc cải thiện các chính sách an sinh xã hội tại địa phương.

Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ giải pháp giảm nghèo bền vững theo tiêu chí nghèo đa chiều tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp giảm nghèo bền vững, một vấn đề quan trọng trong việc hỗ trợ người lao động và cộng đồng.

Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người yếu thế tại trung tâm bảo trợ xã hội quảng nam", tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các chính sách hỗ trợ cho những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề xã hội hiện nay.