phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận án đợc kết cầu trong 4 chong nh sau: - Chong 1: Téng quan các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia xã hội của ngời đi lao động nớc ngoài sau khi trở về 14 - Chơng 2: Cở sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu - Chơng 3: Sự tham gia hoạt động kinh tế của ngời đi lao động nớc ngoài sau khi trở về - Chơng 4: Sự tham gia các nhóm/tô chức xã hội và hoạt động cộng đồng của ngời đi lao động nớc ngoài sau khi trở vê. TONG QUAN CAC NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN SỰ THAM GIA XA HOI CUA NGG]OI DI LAO DONG NG|OC NGOAI TRO VE 1. Những nghiên cứu về sự tham gia xã hội Mặc dù khái niệm sự tham gia xã hội đã đợc thảo luận từ thập niên 1960, tuy nhiên vẫn cha có một định nghĩa thống nhất về sự tham gia xã hội đợc thừa nhận [Barbara, 2012]. Nhiều tác giả vẫn thờng sử dụng khái niệm sự tham gia xã hội và sự tham gia thay thé cho nhau [Cicerone KD va Azulay J, 2007], [Winkle M, Crowe TK va Hendrix I, 2012], [Bowes A va Mc Colgan G, 2013].
Thêm vào đó, một số tác giả cũng sử dụng khái niệm sự tham gia xã hội gần nh là hòa nhập xã hội, hội nhập xã hội và hoạt động xã hội [Koster M, Nakken H, Pijl SJ, Van Houten EJ va Lutje Spelberg HC, 2008]. Trong khi những tác giả đầu tiên xem sự tham gia và sự tham gia xã hội gần nh là tơng đơng thí những tác giả sau này dờng nh có sự phân biệt giữa hai khái niệm trên. Họ xác định đợc ba cách có thể đề cập đến sự tham gia xã hội nh là một chủ thê riêng biệt; chăng hạn nh sự tham gia của ngời tiêu dùng (consumer participation), hoạt động xã hội và các cấp độ tham gia vào trong x4 hdi [Barbara Piskur, 2014]. Quan diém cho rang sự tham gia xã hội đợc coi nh là sự tham gia của ngời tiêu dùng xuất phát từ các tác giả liên quan đến hòa nhập xã hội và phong trào dựa trên quyền (he rights-based movement).
Trong tâm của quan điểm này nhấn mạnh vào việc đóng góp tìch cực cho xã hội. Theo Viện nghiên cứu tham gia xã hội, ba thành phần cốt lõi của khái niệm sự tham gia xã hội mà họ đa ra trên đây đợc dựa trên những nghiên cứu về các hình thức tơng tác xã hội nh: các sách chuyên khảo về khái niệm vốn xã hội, hòa nhập xã hội, quyền tự quyết của cá nhân trong các mô hính tơng tác và trách nhiệm xã hội [Bathgate T và Romios P, 2011, dẫn theo [Barbara Piškur, 2014]. Ở cấp độ cá nhân, một số tác giả cũng có quan 16 điểm nhấn mạnh yếu tố đóng góp cho cộng đồng khi đa ra định nghĩa về sự tham gia xã hội chăng hạn nh quan điểm của tác giả Mars và cộng sự [Mars, 2008, tr.1298] va Lariviere [Lariviere, 2008, tr. Có một số tác giả đã sử dụng khái niệm sự tham gia xã hội đồng nghĩa với hoạt động xã hội, tơng tác xã hội ở trong một vài lĩnh vực nghiên cứu, chăng hạn nh Koster, Shattuck cùng các cộng sự [Koster M, 2009; Shattuck PT, 2011].
Các tác giả này giới hạn sự tham gia xã hội ở những tơng tác giữa các cá nhân, sự tham gia vào các hoạt động hay sự kiện tính nguyện [Commission, 2010], hoặc tham gia các hoạt động với t cách là một thành viên của xã hội [Konlaan BB, 2000], dành thời gian cho các để tham gia các hoạt động xã hội hàng ngày [Maler & Klumb, 2005]. Ngoài ra, một số tác giả khác cho rằng sự tham gia xã hội là những hoạt động đợc diễn ra ở trong và ngoài gia đính, cho phép các cá nhân gặp gỡ những ngời khác, đóng góp cho xã hội và tham gia trực tiếp vào xã hội [Broese Van Groenou và Deeg, 2006]. Hai loại hính hoạt động xã hội đợc phân biệt nh sau: hoạt động sản xuất và vui chơi giải trì. Hoạt động sản xuất xã hội là hoạt động mà các cá nhân đóng góp nguồn lực của mính cho các cá nhân hoặc các nhóm trong cộng đồng thông qua việc tham gia một cách tự nguyện và/hoặc thuộc các tổ chức chình trị và các hiệp hội [Klumb & Baltes, 1999].
Các hoạt động giải trì chủ yếu hớng vào việc cải thiện sức khỏe bản thân của mỗi ngời và sự phát triển độc lập nh các hoạt động nghỉ ngơi và hoạt động về giáo dục. Thêm vào đó, một sỐ tác giả lại nhấn mạnh việc tham gia hoạt động trong các tổ chức dân sự và xã hội [Hyyppä & Mäki, 2003] và [Lindstrom, 2001]. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu chỉ ra rằng khi nghiên cứu về sự tham gia xã hội cần phải gắn liền với sự tơng tác xã hội của cá nhân khi tham gia vào các nhóm xã hội và đời sống xã hội [Wright, 1990; Sourina, 1991; 17 Lindstrom, Hanson, & Ostergren, 2001]. Đồng thời, cá nhân khi tham gia vào các nhóm và các hoạt động xã hội đó thể hiện sự tơng tác xã hội của một ngời đối với những ngời khác — những ngời mang lại cho họ các loại hỗ trợ về mặt tính cảm và các trợ giúp xã hội cụ thể [Utz, Carr, Nesse, Wortman, 2002], [Thompson & Whearty, 2004], [Dalemans, De Witte, Wade, Van den Heuvel, 2008].
Tong tu nh vay, mot số tác giả cho rằng sự tham gia xã hội là các thuận lợi đến từ việc xây dựng và duy trí nhiều mối quan hệ xã hội và việc tham gia vào trong cộng đồng [Del Bono, Sala, Hancock, Gunnell và Parisi, 2007]. Một số nhà nghiên cứu khác đa ra quan điểm cho rằng sự tham gia xã hội là trải nghiệm mang tình tìch cực về các khìa cạnh nh 1) các liên hệ và hành động xã hội, 2) công việc và sự hỗ trợ không chình thức, 3) các hoạt động văn hóa cũng nh các sự kiện công cộng, 4) chình trị và truyền thông có các liên hệ xã hội; sự đóng góp các nguồn lực cho xã hội hoặc nhận các nguồn lực từ xã hội [Mars và cộng sự, 2008]. Ngoài ra, Cục thống kê Australia khi nghiên cứu về sự tham gia xã hội đã có những nghiên cứu cụ thể về sự tham gia xã hội của nhóm ngời lao động di c. Kết quả chỉ ra sự tham gia xã hội và kết nối xã hội ở mức độ cao đợc cho là góp phần vào phúc lợi chung của cá nhân và cộng đồng của họ.
Cơ hội tham gia xã hội và tơng tác xã hội có thể đợc nhận diện thông qua việc tham gla vào công việc đợc trả lơng và không đợc tra long, tham gia hoạt động văn hóa và giải trí [Australian Bureau of Statistics, 2004]. Họ đã có sự so sánh với những ngời bản địa với ngời di c về sự tham g1a các hoạt động xã hội, kết quả cho thấy cả ngời đi c và ngời sinh ra ở Úc đều đợc hởng lợi và đóng góp cho xã hội Úc thông qua việc tham gia vào các hoạt động xã hội. Tham gia vào lực lợng lao động và tham gia vào các hoạt động xã hội mang đến cho mọi ngời cơ hội hòa nhập cộng đồng một cách 18 rộng lớn hơn và xây dựng mạng lới hỗ trợ xã hội, từ đó góp phần nâng cao ý thức cộng đồng [Trends, 2008]. Một số nghiên cứu đã chú trọng làm rõ những yếu tố tác động đến sự tham gia xã hội.
Đó là: những thay đổi trong suốt cuộc đời của cá nhân, bao gồm các sự kiện trong cuộc sống (vi du nh vé hu, tir vong hoặc bệnh tật giữa bạn bè và gia đính, di chuyển chễ ở.), điều kiện sức khỏe và tình trạng kinh tế xã hội có thể ảnh hởng đến các mô hình tham gia xã hội [Ashida và Heaney, 2008]. Một nhóm nghiên cứu thực hiện dự án về sự tham gia nh tác giả Brodie và các cộng sự (2009) [trích dẫn theo Nguyễn Quý Thanh, 2016] cho rằng động cơ của sự tham gia cần phải đợc xem xét từ ba góc độ: động cơ tâm lý; đặc điểm xã hội và các yếu tố liên quan đến môi trờng. Bên cạnh đó, tác giả Taylor (1992) [trích dẫn theo Nguyễn Quý Thanh, 2016] đã xác định yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa ảnh hởng đến việc ngời dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Những yếu tố này bao gồm: mong muốn đợc tham gia vào các hoạt động chung; hỗ trợ lẫn nhau; tăng cờng bản sắc cộng đồng; và giúp cho cá nhân có cảm giác thân thiết.
Thêm vào đó, nhiều đặc điểm kinh tế, xã hội và nhân khẩu học liên quan đến sự tham gia của xã hội của nhóm công nhân làm việc toàn thời gian đã đợc xác định trong nhiều nghiên cứu [Putnam, 2000], [Selbee, 2006], [Musick, 2008], [Crompton, 2012]. Musick và cộng sự [Musick, 2008] đã chỉ ra thời gian làm việc, trính độ học van, mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái, quy mô và tính đa dạng của mạng lới xã hội, thực hành tôn giáo đều có ảnh hỏng đến sự tham gia xã hội. Tac gia Martin Turcotte va Stéphanie Gaudet [Martin, 2013] cũng xem xét những đặc điểm này, và phát hiện thêm yếu tổ về tinh linh hoạt của điều kiện làm việc có ảnh hởng đến sự tham gia hoạt động tình nguyện của công nhân. 19 Mặt khác, một số tác gia cho rằng đề có thể phân tích cặn kẽ những yếu tố ảnh hởng tới sự tham gia xã hội của cá nhân, không thể không đề cập đến sự tham gia về kinh té.
Mc Clure cho rang “Sự tham gia xã hội và kinh tế” nói đến một chuỗi cách thức con ngời đóng góp và tham gia vào cuộc sống cộng đồng. Nhóm có thấm quyền đối với cải cách phic loi [McClure, 2000] đã làm sáng tỏ tầm quan trọng của sự tham gia xã hội và cả sự tham gia kinh tế. Bên cạnh đó, Flood khẳng định sự tham gia kinh tế có thể tăng cờng sự tham gia xã hội khi con ngời phát triển những mạng lới hỗ trợ thông qua công việc, kinh doanh hay việc học tập của mính. Ngợc lại, giảm sự tham gia kinh tế thờng làm giảm sự tham gia xã hội, đặc biệt là đối với đàn ông, nh đã thảo luận trong nghiên cứu mô tả sự cô đơn ở Australia [Flood, 2005].
Nam giới đợc trả nhiều giờ làm việc hơn sẽ tăng mức độ hỗ trợ và tình bạn trong khi phụ nữ dù làm công việc bán thời gian hay toàn thời gian thì mức độ hỗ trợ và tình bạn của họ cũng nh nhau.