Luận văn: Cơ sở địa lý sử dụng tài nguyên và BVMT huyện Đại Từ, Thái Nguyên

Nghiên cứu cơ sở địa lý, phân tích thực trạng và đề xuất định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường tại huyện Đại Từ, Thái Nguyên.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2014

139
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở địa lý cho sử dụng tài nguyên huyện Đại Từ

Huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên sở hữu những cơ sở địa lý vô cùng phong phú với địa hình đa dạng từ núi cao đến thung lũng sông Công. Các nghiên cứu khoa học đã xác lập rằng vị trí địa lý của huyện nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển bền vững. Đặc điểm địa chất và địa mạo cho thấy sự phong phú của các nguồn khoáng sản quý giá. Các hệ thống sông, suối chuyên chở nước quanh năm, đó là nền tảng cho sử dụng hợp lý tài nguyên nước. Những điều kiện khí hậu ôn hòa, thổ nhưỡng màu mỡ tạo nên tiềm năng lớn cho phát triển nông nghiệp bền vững và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên. Việc hiểu rõ các yếu tố địa lý này là chìa khóa cho những quyết định quản lý tài nguyên hiệu quả.

1.1. Đặc điểm địa chất và địa mạo

Địa chất huyện Đại Từ có nguồn gốc từ các kỳ địa chất khác nhau, tạo ra sự đa dạng về khoáng sản và tài nguyên. Các vùng núi Tam Đảo, Hồng, Chúa với độ cao từ 800-1200m là những nơi giàu tài nguyên rừng quý giá. Địa mạo bị chia cắt bởi sông Công tạo thung lũng màu mỡ, phù hợp cho canh tác nông nghiệp. Các bãi bồi ven sông là những vùng đất mới có tiềm năng khai thác nông lâm sản.

1.2. Hệ thống thủy văn và khí hậu

Sông Công là trục thủy văn chính của huyện, cùng mạng lưới các suối và hồ nước tự nhiên tạo thành hệ thống tài nguyên nước phong phú. Khí hậu ôn đới núi với mưa cao quanh năm bảo đảm nguồn nước dồi dào cho nông nghiệp và thủy lợi. Độ ẩm cao giúp bảo vệ rừng tự nhiên khỏi cháy nổ.

II. Thực trạng sử dụng tài nguyên và những thách thức bảo vệ môi trường

Tình hình sử dụng tài nguyên huyện Đại Từ hiện nay phản ánh sự mất cân bằng giữa khai thác và bảo vệ. Khai thác khoáng sản đặc biệt là than và các chất khoáng khác đang tạo áp lực lớn lên môi trường đất và nước. Các hoạt động nông nghiệp tập trung gây ô nhiễm hóa chất nông độc đe dọa chất lượng nước ngầm. Suy giảm rừng do khai thác gỗ và lâm sản không bền vững là vấn đề cấp bách. Ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp tập trung ở các khu vực dân cư dày đặc. Mặc dù vậy, huyện vẫn còn những vùng rừng nguyên sinh với giá trị sinh thái cao cần được bảo vệ tích cực. Việc thiết lập một hệ thống quản lý tài nguyên toàn diện là cần thiết để cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

2.1. Áp lực từ khai thác khoáng sản

Hoạt động khai thác than là nguồn thu nhập lớn nhưng gây tác hại đến môi trường rất lớn. Mất đất trồng trọt, ô nhiễm không khí và nước là những hậu quả trực tiếp. Cần thiết kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác và phục hồi môi trường sau khai thác.

2.2. Mâu thuẫn trong sử dụng đất nông lâm

Suy giảm rừng tự nhiên do chuyển mục đích sử dụng đất với tốc độ nhanh. Canh tác nông nghiệp thông thường với sử dụng hóa chất vô độ gây ô nhiễm dư lượng. Cần chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ bền vững để bảo vệ độ thị phân đất.

III. Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên theo tiểu vùng địa lý

Để sử dụng tài nguyên hợp lý ở huyện Đại Từ, cần phân chia các tiểu vùng địa lý với những chính sách khác nhau. Vùng núi Tam Đảo, Hồng, Chúa nên tập trung vào bảo vệ rừng tự nhiên và phát triển lâm sản bền vững, du lịch sinh thái. Tiểu vùng đồi chân núi phù hợp với nông nghiệp hữu cơ chuyên canh cây ăn quả và trồng rừng sản xuất. Vùng thung lũng ven sông Công là nơi thích hợp cho phát triển nông nghiệp集约化 với hệ thống tưới tiêu hiệp thức. Vùng Hồ Núi Cốc cần ưu tiên bảo vệ chất lượng nước và phát triển du lịch bền vững. Mỗi tiểu vùng cần có quy hoạch riêng dựa trên tiềm năng tài nguyênsức chứa môi trường để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

3.1. Định hướng cho vùng núi cao

Tiểu vùng núi Tam Đảo và Hồng cần thực hiện bảo vệ rừng như ưu tiên hàng đầu với cấm khai thác gỗ không bền vững. Phát triển du lịch sinh tháidịch vụ môi trường rừng để tạo thu nhập cho dân địa phương mà không làm hại tài nguyên thiên nhiên.

3.2. Chiến lược phát triển vùng thung lũng

Thung lũng ven sông Công là vùng có tiềm năng nông lâm sản cao nhất. Cần áp dụng kỹ thuật canh tác hiệp thức kết hợp nông nghiệp - lâm nghiệp bền vững. Bảo vệ chất lượng nước sông thông qua kiểm soát ô nhiễm nguồn từ hoạt động sản xuất.

3.3. Phát triển bền vững Hồ Núi Cốc

Hồ Núi Cốc là tài sản quý giá với chức năng cấp nước và du lịch. Cần giữ nguyên diện tích rừng xung quanh hồ để bảo vệ chất lượng nước và phát triển du lịch sinh thái bền vững nhằm nâng cao đời sống cộng đồng địa phương.

IV. Giải pháp quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường toàn diện

Quản lý tài nguyên bền vững tại huyện Đại Từ cần một hệ thống giải pháp toàn diện và kỹ lưỡng. Trước hết, phải xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên chi tiết từ đánh giá tiềm năng lãnh thổ để làm nền tảng cho quyết sách. Thứ hai, thực hiện giám sát môi trường thường xuyên bằng các kỹ thuật hiện đại như viễn thám và GIS để phát hiện sớm tác động tiêu cực. Cần tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ môi trườngsử dụng tài nguyên, đặc biệt trong kiểm soát khai thác khoáng sản. Huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quản lý và bảo vệ tài nguyên là yếu tố quan trọng. Cần nâng cao nhận thức của nhân dân và doanh nghiệp về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường. Cuối cùng, phải liên kết với các cơ quan khoa học để thường xuyên cập nhật những phương pháp quản lý tiên tiến nhất.

4.1. Xây dựng hệ thống quản lý thông tin tài nguyên

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) cần được thiết lập để giám sát sự thay đổi tài nguyên theo thời gian. Dữ liệu vệ tinh và ảnh viễn thám giúp phát hiện sớm rừng bị phá, mất đất nông nghiệpô nhiễm nước. Nhu cầu đầu tư công nghệ thông tin là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên.

4.2. Tăng cường kiểm soát và thực thi pháp luật

Tổ chức kiểm tra xuyên suốt các hoạt động khai thác tài nguyên để phát hiện vi phạm. Xử lý nghiêm các trường hợp khai thác trái phépô nhiễm môi trường. Cần trang bị đủ nhân lực và kinh phí cho các cơ quan quản lý tài nguyên môi trường.

4.3. Nâng cao nhận thức và tham gia cộng đồng

Các chương trình giáo dục môi trường trong nhà trường và cộng đồng giúp nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên. Động viên người dân tham gia vào bảo vệ rừnggiám sát môi trường địa phương. Phát triển các hợp tác xã sản xuất nông lâm sản bền vững với sự tham gia của cộng đồng.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, vấn đề nghiên cứu SDHL tài nguyên, bảo vệmôi trường được tiếp cận từ các hướng nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu cảnh quan; nghiên cứu KT – XH; nghiên cứuđánh giá xói mòn đất và bảo vệ đất khỏi xói mòn; hướng nghiên cứu phân tích lưu vực (gồm quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo LVS, quy hoạch sử dụng đất lưu vực dựa trên đánh giá phân cấp phòng hộ đầu nguồn và phân cấp xói mòn đất theo lưu vực); nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường… 1. Trên thế giới - Hướng nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo bệ môi trường: Trong khoa học địa lý, cảnh quan được xem là một thể tổng hợp tự nhiên được cấu thành bởi những thành phần tự nhiên có mối quan hệ chặt chẽ, được phân chia ở các cấp phân vị khác nhau. Nghiên cứu các thể tổng hợp lãnh thổ địa lý trên thế giới gắn liền với sự ra đời của khoa học cảnh quan.

Từ những năm cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 trên thế giới đã có nhiều công trình đánh giá, khai thác và sử dụng tài nguyên, môi trường theo quan điểm địa lý tổng hợp. Trong đó, các công trình của các nhà địa lý Hòa Kỳ, Anh thường mang tínhứng dụng nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn còn những kết quả nghiêncứu về sử dụng TNTN, BVMT và sự phân chia lãnh thổ tự nhiên của các nhà địa lý Liên Xô (cũ) đặc biệt có ý nghĩa về mặt lý luận. Có thể coi, các quan điểm và kết quả nghiên cứu của những nhà địa lý trong giai đoạn này có tính chất cơ sở tạo tiền đề cho sự ra đời của khoa học cảnh quan. 5 Từ giữa thế kỉ 20, vai trò của các bản đồ và phương pháp cảnh quan trongnghiên cứu cải tạo tự nhiên được đánh giá cao, chính vì thế các nhà địa lý Liên Xô (cũ) đã tập trung nghiên cứu có hệ thống để thành lập các bản đồ cảnh quan và phân vùng địa lý tự nhiên ở những tỉ lệ khác nhau nhằm mục đích phục vụ phát triển KTXH.

Qua công tác này, những kinh nghiệm nghiên cứu được tổng hợp và phát triển thành những khái niệm và cơ sở lý luận về cảnh quan. Những kết quả nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ 20 trở về đây đã đánh giá bước phát triển mới trong nghiên cứu đánh giá cảnh quan nhằm với sự chuyển dần từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng và ngày càng đa dạng về nội dung. Nhiều phương pháp tiếp cận mang tính liên ngành được sử dụng nhưphương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái… đã tạo nên bước ngoặt trong nghiên cứu cảnh quan từ nghiên cứu cấu trúc sang nghiên cứu cả chức năng và động lực của cảnh quan [12]. Cũng từ cuối thập kỷ 60 của thế kỉ 20 đến nay một hướng nghiên cứu ứng dụngmới của cảnh quan xuất hiện từ sự giao thoa, thống nhất giữa cảnh quan học và sinh tháihọc là nghiên cứu cảnh quan sinh thái.

Cảnh quan sinh thái sử dụng phương pháp tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu sự phân hoá của các đơn vị cảnh quan theo một hệ thống phân bậc, có sự kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu cảnh quan và HST [12].Những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn theo xu hướng này hiện nay đang được vận dụng trong nghiên cứu đánh giá tài nguyên, môi trường sinh thái (MTST). - Hướng nghiên cứu đánh giá xói mòn đất và bảo vệ đất khỏi xói mòn Những khảo sát sơ khai về xói mòn trên các sườn dốc đã ra xuất hiện từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. Tuy nhiên phải đến thế kỷ thứ 18, những nghiên cứu vềxói mòn trong mối quan hệ với dòng chảy mặt mới thực sự được các nhà khoa học Liên Xô (cũ) tiến hành nghiên cứu có hệ thống. Nhìn chung, hướng nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới đều tập trung vào các vấn đề như: xác định nguyên nhân, hiện trạng quá trình xói mòn đất cả về mặt địnhtính và định lượng; dự báo nguy cơ xói mòn; nghiên cứu đề xuất các biện pháp, 6 cácmô hình canh tác hạn chế xói mòn; ứng dụng triển khai các biện pháp hạn chế xóimòn có hiệu quả trong những điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ.

Tại Liên Xô (cũ), nghiên cứu xói mòn do mưa và tuyết tan được M. Lômônôxốp tiến hành từ những năm 1751 đến 1763. Sau đó, là các công trình của N.C Kozxenco đã cho xây dựng trạm nghiên cứu sự hìnhthành và phát triển của khe rãnh. Đến năm 1925, bản đồ khe rãnh lãnh thổ châu Âuđã được thành lập, tiếp đến là bản đồ xói mòn Ukraina (1936), bản đồ xói mòn LiênXô (cũ) vào các năm 1939, 1948, 1960) [dẫn bởi 28].

Ở Hoa Kỳ, một trong những biện pháp có hiệu quả trong việc hạn chế xói mònlà trồng rừng phòng hộ cho đồng ruộng. Chính vì thế ngay từ những năm đầu thế kỷ20, chính phủ Hoa Kỳ đã triển khai trồng và phục hồi rừng phòng hộ cho đồngruộng. Diện tích rừng phòng hộ đặc biệt phát triển mạnh từ năm 1935 trên khắplãnh thổ. Ngoài ra, chính phủ Hoa Kỳ cũng tăng cường các biện pháp công trìnhnhư xây dựng các đập ngăn dòng để hạn chế động lực dòng chảy, xây dựng bờ kè ởnhững vùng canh tác trên những sườn dốc.

Ở một số quốc gia khác như Canada, Pháp, hướng nghiên cứu xói mòn tậptrung vào việc tìm ra các biện pháp hạn chế xói mòn có hiệu quả. Những biện pháphạn chế xói mòn chủ yếu của các quốc gia này bao gồm: trồng rừng phòng hộ đầunguồn và bao quanh các thửa ruộng canh tác; xây dựng các bờ kè giữ đất, trồng cỏvà cây thân gỗ kết hợp cây nông nghiệp trên các sườn dốc; tiến hành san lấp các khehẻm bằng biện pháp cơ giới sau đó trồng hỗn hợp giữa lúa mạch đen và cỏ lâu nămđể hạn chế mất đất, mất nước. Tại các nước châu Á và châu Phi, nhiều công trình nghiên cứu xói mòn đãđược tiến hành ở Trung Quốc, Nhật Bản, Xrilanca, Philipin. Điểm chung nhấttrong các công trình nghiên cứu xói mòn ở các quốc gia này là tập trung vào việc vận dụng, triển khai những kết quả nghiên cứu, biện pháp và mô hình canh tác hạn chế xói mòn của các nước Châu Âu vào điều kiện thực tế của mỗi quốc gia.

7 - Hướng nghiên cứu phân tích lưu vực sông: LVS được nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực và hướng tiếp cận khác nhau. Theohướng phân tích lưu vực, đơn vị được sử dụng trong đánh giá tổng hợp là LVS.Mức độ chi tiết về cấp LVS được sử dụng phụ thuộc vào lãnh thổ nghiên cứu. Côngnghệ GIS ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong quản lý dữ liệu, phân tích khônggian bằng các mô hình và chỉ tiêu định lượng. Nghiên cứu quy hoạch SDHL tài nguyên theo LVS là nội dung quan trọng củaquản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực.

Do đặc thù của thiên nhiênnhiều đồi núi trong điều kiện mưa mùa, sự cân bằng của MTTN không ổn định nênhướng phân tích lưu vực được đánh giá là cách tiếp cận phù hợp nhất nhằm khaithác hợp lý tài nguyên và BVMT ở nước ta. Cho đến nay đã có nhiều công trìnhnghiên cứu lưu vực từ nhiều hướng tiếp cận và phương pháp khác nhau nhằm đềxuất quy hoạch sử dụng đất và SDHL tài nguyên. Tổng hợp các kết quả nghiên cứutheo hướng này, có thế thấy một số cách tiếp cận chính sau: + Quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo LVS đã được thực hiện ở nhiều nước châuÂu từ nửa cuối của thế kỷ 20 và được xem là yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay.Theo cách tiếp cận này, tài nguyên nước trong lưu vực sông phải được quản lý thốngnhất, không chia cắt giữa các cấp hành chính, giữa thượng nguồn và hạ nguồn. Mục đíchcủa tiếp cận quản lý tài nguyên nước theo lưu vực là nhằm đảm bảo sự bình đẳng, hợp lývề nhu cầu sử dụng và công bằng về trách nhiệm trong việc quản lý tài nguyên nước giữacác ngành, các địa phương theo không gian địa lý của lưu vực, hướng tới sự bền vữngtrong việc khai thác, sử dụng nguồn nước [8], [10], [23].

Các quốc gia Đông Nam Á đều coi trọng cách tiếp cậnquản lý tổng hợp tài nguyên nước theo LVS và đang tiến hành nghiên cứu xây dựngcác mô hình quản lý tài nguyên nước phù hợp. Tính đến 2009, đã có trên 80 tổ chứcLVS được xây dựng trong tổng số 169 LVS lớn của khu vực Đông Nam Á nhằmquản lý tổng hợp tài nguyên nước nói riêng và TNTN theo lưu vực nói chung. 8 + Quy hoạch sử dụng đất lưu vực dựa trên đánh giá phân cấp phòng hộ đầu nguồn: Phân cấp đầu nguồn (WSC - Watershed Classification) là phương pháp phânchia hệ thống lưu vực thành các cấp đầu nguồn khác nhau (5 cấp) dựa trên các đặctrưng địa hình và thổ nhưỡng. Mục đích của WSC là phân tích nguy cơ xói mòn vàtiềm năng sử dụng đất, xác định những vị trí và khu vực rủi ro liên quan đến sửdụng đất [5].

Mô hình phân cấp đầu nguồn đã được Ủy ban sông Mekong đề xuất và áp dụng ởmột số nước trong LVS Mekong như Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Trongđó độ dốc, độ cao và dạng đất là những biến được xem xét trong phương trình còn cácyếu tố khác như mưa, tính chất đất và chiều dài sườn không được đề cập đến. - Nghiên cứu quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực sông: Quản lý tổng hợp LVS trên thế giới đã được thực hiện ở nhiều nước từ nửacuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây. Từ sau Hộinghị Dublin và Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và phát triển của Liên HợpQuốc họp tại Rio de Janero (Braxin, 1992), do phải đối phó với những thách thức vềnguồn nước, sự gia tăng ô nhiễm và suy thoái các nguồn TNTN trên các LVS, phầnlớn các nước trên thế giới đều thực hiện quản lý tổng hợp lãnh thổ theo ranh giớilưu vực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TNTN, giải quyết các mâu thuẫn trongkhai thác, sử dụng tài nguyên giữa các vùng và giữa các đối tượng khai thác sửdụng trong LVS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ