mở đầu của Lý thuyết về Tiếp cận tích hợp (Theory of Integral Approach). Nó đƣợc hình dung nhƣ là một lý thuyết về mọi sự vật và cung cấp một đƣờng hƣớng kết hợp nhiều mô thức rời rạc hiện tại thành một mạng hoạt động phức hợp, tƣơng tác nội tại theo nhiều cách tiếp cận [17]. Bằng những diễn giải về thần kinh nhận thức và tâm lý học, tích hợp đƣợc chỉ ra là một tiến trình tƣ duy và nhận thức mang tính chất phát triển tự nhiên của con ngƣời trong mọi lĩnh vực hoạt động khi họ muốn hƣớng đến hiệu quả của chúng. Quan điểm tích hợp “cho phép con ngƣời nhận ra những điều then chốt và các mối liên hệ hữu cơ giữa các thành tố trong hệ thống và trong tiến trình hoạt động thuộc một lĩnh vực nào đó” [21].Đặc biệt, quan điểm này dẫn ngƣời ta đến việc phát triển nhiều loại hình họat động, tạo môi trƣờng áp dụng những điều mình đã đƣợc lĩnh hội vào 7 z thực tiễn, nhờ vậy tác động và thay đổi thực tiễn.
Do vậy, tích hợp là vấn đề của nhận thức và tƣ duy của con ngƣời, là triết lý/nguyên lý chi phối, định hƣớng và quyết định thực tiễn hoạt động của con ngƣời. Lý thuyết về tiếp cận tích hợp đã đƣợc nhiều nhà thực hành lý thuyết áp dụng trong hơn 35 lĩnh vực chuyên môn và học thuật khác nhau, trong đó có giáo dục, và hẹp hơn là lĩnh vực dạy học. Đến nay, lý thuyết tích hợp đƣợc ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và trở thành một quan điểm (một trào lƣu tƣ tƣởng) lý luận dạy học phổ biến trên thế giới. Trong công bố tổng tập công trình Các quá trình tích hợp trong khoa học Giáo dục và thực tiễn giáo dục – dạy học chủ nghĩa cộng sản‖ năm 1983, nhóm tác giả nhận định tuyển tập của họ “là những ý tƣởng đầu tiên phản ánh bản chất các quá trình tích hợp trong giáo dục nhƣ là tính quy luật của khoa học” [8].
Với tuyển tập công trình này, khái niệm tích hợp lần đầu tiên đƣợc các nhà giáo dục xem nhƣ một yếu tố xã hội và khoa học, tham gia vào hệ thống phạm trù của giáo dục học cũng nhƣ các khoa học khác. Theo đó, khái niệm tích hợp không xuất hiện từ tính phức tạp của kinh nghiệm giáo dục đơn thuần mà đã đƣợc chuẩn bị bằng sự chuyển dịch, thay đổi các mô hình giáo dục trong nhiều thập kỷ trƣớc đó: tính liên môn – nhƣ là một nguyên tắc lý luận dạy học vào thập niên 70 đã hình thành nền tảng cho sự ra đời của khái niệm tích hợp. Xavier Roegier dùng thuật ngữ: "La pedagogie de l‟integration" và đƣợc dịch là "khoa sƣ phạm tích hợp" (KSPTH), (ngƣời dịch: Đào Trọng Quang, Nguyễn Ngọc Nhị) [9]. Theo từ điển "Le petit Larousse illustrée" (2002) giải nghĩa: La pédagogie = 1) Théorie, science de l‟education des enfants; 2) Méthode d'enseignement, có nghĩa là: 1) Lý thuyết, khoa học giáo dục trẻ em; 2) Phƣơng pháp dạy học.
Từ đó có thể thấy, lý thuyết tích hợp trong khoa học về sƣ phạm, tùy theo ngữ cảnh sử dụng cụ thể, có thể hiểu nhƣ một lý thuyết hay một tƣ tƣởng giáo dục, cũng có thể hiểu nhƣ một phƣơng 8 z pháp dạy học. Với ý nghĩa là một lí thuyết chỉ đạo hoạt động dạy học nên xuất hiện và xuất hiện phổ biến thuật ngữ "dạy học tích hợp".Khái niệm Tích hợp đƣợc sử dụng trong lĩnh vực giáo dục – khoa học sƣ phạm, hình thành nên một quan điểm tiếp cận sƣ phạm, quan tâm tới hai khía cạnh chính là “Integrated Curriculum” (chủ yếu tập trung nghiên cứu cách thức xây dựng chƣơng trình dạy học mang tính tích hợp, dựa trên quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực ngƣời học) và “Integrated Learning” (quan tâm đến cách thức tổ chức hoạt động dạy học hƣớng tới mục tiêu tích hợp, đảm bảo việc ngƣời học vận dụng các đối tƣợng riêng biệt theo truyền thống lại cùng nhau để giải thích một hiện tƣợng, giải quyết một vấn đề, tạo ra một sản phẩm, hay đƣa ra một câu hỏi mới có tính liên ngành có và thực tế hơn). Trong cuốn Khoa Sƣ phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trƣờng, Xavier Roegiers chỉ ra: "lí thuyết sƣ phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trƣớc những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tƣơng lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động - Lí thuyết sƣ phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa" [9].Ya (2000) cho rằng: "Tích hợp giáo dục là quá trình học sinh dƣới sự chỉ đạo của giáo viên thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của một môn học sang ngôn ngữ môn học khác mà nhờ quá trình đó học sinh nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển các phẩm chất cá nhân". Theo trang từ điển mã nguồn mở về Công nghệ dạy học EdTech Wiki, dạy học tích hợp (integrated learning) là một khái niệm dùng để chỉ những thiết kế sƣ phạm mà trong đó có kết hợp nhiều hoạt động dạy – học và các thành tố công nghệ [26]; Cụ thể: 9 z - Tích hợp các chiến lƣợc dạy học khác nhau, bao gồm dạy học cho từng cá nhân, dạy học theo nhóm và dạy học cho toàn lớp; - Tích hợp các hoạt động dạy trực tiếp với các hoạt động học và thực hành - Sử dụng đa dạng các kỹ thuật công nghệ khác nhau - Tích hợp giữa kiến thức mang tính lý thuyết, lý luận với các kiến thức mang tính thực tế (có thể gắn liền với vị trí của ngƣời học trong công việc) Quan niệm mà EdTech Wiki đề ra cho thấy trọng tâm của Dạy học tích hợp không phải là sự liên kết nội dung mà là sự liên kết về cách thức tổ chức, huy động đa dạng nguồn lực để hƣớng tới sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức lý thuyết và yếu tố thực hành thực tiễn, với sự tham gia của công nghệ.
Đại học Lehigh xác định khi xây dựng chƣơng trình đào tạo của mình: “Dạy học tích hợp có nghĩa là kết hợp những gì bạn học trong lớp học, cho dù đó là lý thuyết hay kỹ thuật, với các giải pháp của các vấn đề thế giới thực cho những yêu cầu thực tiễn” [27]. Khi ngƣời học đƣợc đặt vào việc dạy và học theo chƣơng trình dạy học tích hợp, “những kinh nghiệm học tập theo kế hoạch không chỉ cung cấp cho ngƣời học một cái nhìn thống nhất về kiến thức thông thƣờng (bằng cách học các mô hình, hệ thống và cấu trúc của văn hoá) mà còn thúc đẩy và phát triển năng lực của ngƣời học để nhận ra các mối quan hệ mới và do đó để tạo ra các mô hình, hệ thống và cấu trúc mới” [15]. Trong lĩnh vực khoa học giáo dục ở Việt Nam, theo tác giả Dƣơng Tiến Sỹ, “tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức/khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn đƣợc đề cập trong các môn học đó” [7]. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh chỉ rõ: “Tích hợp kiến thức là sự liên kết, kết hợp, lồng ghép tri thức của các khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất.
Còn tích hợp dạy học là quá trình dạy học 10 z trong đó có sự lồng ghép, những tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó ngƣời học không chỉ lĩnh hội đƣợc tri thức khoa học của môn học chính mà cả tri thức của khoa học đƣợc tích hợp, từ đó hình thành cho ngƣời học cái nhìn khái quát hơn đối với các khoa học có cùng đối tƣợng nghiên cứu, đồng thời có đƣợc phƣơng pháp xem xét vấn đề một cách logic, biện chứng” [2]. Gần đây, trong bản đƣợc công bố vào tháng 7/2017, Chƣơng trình tổng thể của Chƣơng trình giáo dục phổ thông ghi rõ: Dạy học tích hợp: là định hƣớng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng,. thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, đƣợc thực hiện ngay trong quátrình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng [1]. Tuy có những khác biệt về quan niệm hay về cách sử dụng thuật ngữ, song tựu chung, có thể thấy rằng: Tích hợp (trong dạy học) không có nghĩa là thay thế nội dung dạy học đã có, mà là sự kết hợp các đơn vị kiến thức riêng lẻ; trải qua hoạt động rèn luyện, luyện tập; nhằm giải quyết những vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn.
Bên cạnh đó, việc tham gia của yếu tố công nghệ vào quá trình học tập mang tính tích hợp là điều tất yếu và đã đƣợc tính đến ngay khi khái niệm về dạy học tích hợp đƣợc hình thành và trở nên phổ biến. Các quan điểm về dạy học tích hợp Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã phát triển trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học, cũng nhƣ xây dựng chƣơng trình môn học trong nhà trƣờng đƣợc sử dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Quan điểm tích hợp này đƣợc xây dựng trên cơ sở những nỗ lực trong việc tích cực hóa hoạt động học tập và quá trình dạy học. Trƣớc khi đƣợc các nhà khoa học – giáo dục học tuyên bố dƣới dạng các mệnh đề, việc tích hợp trong dạy học đã đƣợc sử dụng trong thực tế, với các mức độ khác nhau trên cơ sở của sự lồng ghép, liên hệ, mở rộng các kiến thức trong từng bài học.
Về mặt lý luận, hiện nay tồn tại nhiều quan điểm về dạy học tích hợp, trong đó có thể kể tới 3 11 z hƣớng quan điểm chính trong nghiên cứu về tích hợp trong dạy học và chƣơng trình tích hợp: 1. Quan điểm của Forgaty Trong công bố trên Education Leadership vào tháng 10 năm 1991, Robin Forgaty đã đƣa ra quan điểm của mình về chƣơng trình tích hợp.Theo đó, các kiểu chƣơng trình tích hợp có thể chia thành 3 dạng với 10 cách tích hợp.