đặt vấn đề này sẽ làm hạ thấp vai trò, vị trí của nhà giáo hiện nay). Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, sứ mạng “dạy cách học cho ngƣời học”, “xác lập và định hƣớng các mục tiêu dạy học”, “tổ chức các nội dung và điều khiển, quản lý hình thức dạy học” của ngƣời dạy là mãi mãi không đổi. Bởi lẽ, trong mỗi nội dung tri thức (khách quan khoa học), khi đã đƣợc chuyển hóa thành nội dung dạy học, qua cách xử lý của ngƣời dạy (cực kỳ đa dạng, phong phú) để đến 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với ngƣời học thì đều chứa những giá trị gia tăng. Những giá trị gia tăng đó có thể là: sự định hƣớng hay gợi mở, thách thức hay đơn giản hóa, sự quan tâm, hứng thú, động viên.2 Công nghệ dạy học và hình thức tổ chức dạy học a) Dạy và học theo quan điểm công nghệ thông tin Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hƣớng, có sự tái tạo và phát triển thông tin; dạy là phát thông tin và giúp ngƣời học thực hiện quá trình trên một các hiệu quả.
Để đổi mới PPDH, ngƣời ta tìm những “Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”. Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng PTDH sau đây: - Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead. - Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projector. - Phần mềm dạy học giúp HS học trên lớp và ở nhà.
- Công nghệ kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm trên máy tính. - Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phƣơng tiện (multimedia), networking để dạy học. - Các phƣơng tiện dạy học sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt với phần khó giảng, những khái niệm phức tạp. - HS không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng dễ đào sâu suy nghĩ và điều quan trọng hơn là nhiều HS đƣợc dự và nghe giảng bài của nhiều GV giỏi.
b) CNTT với vai trò là PTDH, TBDH. Nội dung phần này dựa theo [3, tr. 15 – 22] CNTT với vai trò là PTDH, TBDH cần đảm bảo những yêu cầu: - Sử dụng CNTT nhƣ công cụ dạy học cần đƣợc đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó. Mỗi PPDH 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu, ta cần phát huy chỗ mạnh, hạn chế chỗ yếu của mỗi phƣơng pháp.
- Phát huy vai trò của ngƣời thầy trong quá trình sử dụng CNTT nhƣ PTDH, TBDH. Không thủ tiêu vai trò của ngƣời thầy mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình dạy học có sử dụng CNTT. Chẳng hạn khi sử dụng CNTT thay GV trong một số khoảng thời gian, do đƣợc giải phỏng khỏi việc dạy học đồng loạt cho cả lớp, GV có thể đi sâu giúp những HS cá biệt (cả cá biệt yếu và cá biệt giỏi) với thời gian dài hơn nhiều do với dạy học không sử dụng CNTT. - Sử dụng CNTT nhƣ PTDH, TBDH không chỉ nhằm thí điểm dạy học với CNTT mà còn góp phần dạy học về CNTT.
- Sử dụng CNTT nhƣ PTDH, TBDH không phải chỉ để thực hiện dạy học với trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thức đẩy việc đổi mới PPDH ngay cả trong điều kiện không có máy. c) Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng CNTT ở trƣờng trung học. Nội dung phần này dựa theo [3, tr. 22] - Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, GV và HS về việc ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục và dạy học.
- Quan tâm đầu tƣ trang thiết bị về CNTT cho các trƣờng trung học. - Bồi dƣỡng GV các bộ môn về CNTT để họ có thể tổ chức tốt ứng dụng CNTT trong dạy học. - Tổ chức hội giảng với các tiết dạy học có ứng dụng CNTT trong trƣờng trung học nhằm mục đích tuyên truyền, động viên các cá nhân, đơn vị tổ chức tốt việc ứng dụng CNTT. - Xây dụng một số dịch vụ giáo dục và đào tạo ứng dụng trên mạng Internet: xây dựng ngân hàng đề thi, xây dựng các Website.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tuyển chọn, xây dụng và hƣớng dẫn sử dụng các phần mềm quản lí giáo dục và đổi mới phƣơng pháp dạy học. Đƣa các phần mềm dạy học tốt vào danh mục dạy học tối thiểu. - Nâng cao hiệu quả của việc kết nối Internet. - Tổ chức trao đổi kinh nhiệm về ứng dụng CNTT giữa các trƣờng học trong nƣớc và quốc tế.
Tạo điều kiện để việc sử dụng các phƣơng tiện công nghệ thông tin trong nhà trƣờng đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động dạy, học theo nhu cầu và khả năng của mỗi GV, HS.3 Xây dựng môi trường trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học Theo Nguyễn Chí Thành [16, tr. 2 - 18], Didactic là một trƣờng phái nghiên cứu lí luận DH của Pháp ra đời từ những năm 70 nhằm nghiên cứu trong một khung lí thuyết khoa học việc DH Toán ở Pháp tại thời điểm mà việc cải cách DH Toán PT theo quan điểm của trƣờng phái Bourbaki tỏ ra rất thất bại. Theo từ điển Encyclopaedia universalis « Didactic Toán là khoa học nghiên cứu các quy trình truyền thụ và lĩnh hội những tri thức toán học, đặc biệt là trong tình huống (TH) DHPT. Didactic Toán có nhiệm vụ mô tả và giải thích các hiện tƣợng liên quan đến quan hệ giữa dạy và học môn Toán.
Do đó Didactic Toán có mục đích nâng cao các PP cũng nhƣ nội dung DH trong khi đảm bảo cho HS việc xây dựng các tri thức mới nhất (có thể đƣợc biến đổi) và tiện ích cho phép giải quyết các bài toán và đặt ra các câu hỏi thực sự ». Một trong các mục đích của Didactic Toán là việc xây dựng các TH học tập và cung cấp cho GV các công cụ để thực hiện nó. Lí thuyết TH (LTTH) là một trong các lí thuyết cơ sở và ra đời sớm nhất trong nghiên cứu Didactic Toán, đƣợc Brousseau đặt nền móng từ những năm 80. Một trong các yếu tố cơ sở của LTTH là giả thuyết tâm lí « Chủ thể học bằng cách thích nghi (đồng hóa và điều tiết) với môi trƣờng (MT), nơi tạo ra những mâu thuẫn, khó khăn và mất cân bằng ».
Giả thuyết này dựa trên các kết quả nghiên cứu 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Piaget J. và đƣợc Von Glaserfeld phát triển cơ bản của lí thuyết DH kiến tạo. MT là một khái niệm cơ sở trong việc xây dựng các TH didactic. « Một TH đƣợc coi là TH didactic nếu nhƣ có một cá thể (thông thƣờng là GV) có ý định dạy cho một cá thể khác (thông thƣờng là HS) một tri thức nào đó.
Theo Brousseau trong một TH didactic, « MT là hệ thống đối kháng với HS, tức là cái làm thay đổi tình trạng của kiến thức, theo cách mà HS không kiểm soát đƣợc ». Các công trình trong lĩnh vực didactic Toán dành một phần rất quan trọng cho việc nghiên cứu các TH – bài toán trong đó HS phải xây dựng các công cụ mới so với kiến thức đã có giải quyết các bài toán này. Brousseau mô tả các TH nhƣ sự tƣơng tác giữa MT là HS. Nếu ta coi hệ thống didactic đƣợc xây dựng xung quanh tam giác bao gồm các thành tố: GV, HS, tri thức thì MT sẽ nằm ở bên trong hệ thống này nhƣ đƣợc mô tả trong hình số 1.
Các mũi tên nhỏ nét biểu thị sự tƣơng tác ngầm ẩn trong khi đó các mũi tên đậm nét biểu thị sự tƣơng tác tƣờng minh hơn, có thể quan sát đƣợc. Giáo viên Môi trƣờng Kiến thức Học sinh Tri thức 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một trong những vai trò mấu chốt của MT trong TH didactic là cung cấp thông tin và tác động phản hồi trong đó « tác động phản hồi là một thông tin đặc biệt có từ MT: nghĩa là một thông tin đến với HS nhƣ một sự xác nhận tích cực hay tiêu cực trên hành động của họ và cho phép họ điều chỉnh hành động này, cho phép họ chấp nhận hay loại bỏ một giả thuyết, hay tiến hành một lựa chọn giữa nhiều cách giải quyết » (Bessot 2003). Nhƣ vậy các tác động phản hồi của MT cho phép HS, trong một số trƣờng hợp có những đánh giá trên sản phẩm của mình (một chiến lƣợc giải, một câu trả lời, một cách lựa chọn, một quyết định v.) để đi đến loại bỏ hay chấp nhận nó mà không cần sự đánh giá của GV. Ta nói MT có chức năng hợp thức hóa.
Chính bằng cách hành động trên MT, bằng các giải thích của mình đối với các phản hồi tạo ra từ MT, bằng việc lặp lại các phép thử cho lời giải của mình mà HS xây dựng các thích ứng trong kiến thức của mình cho TH gây cho HS một vấn đề nào đó. Các thích ứng này chính là nguồn gốc của các kiến thức mới (Marrgolinas 1993). Một giả thuyết cơ sở trong lí thuyết tình didactic là các MT này phải đƣợc tổ chức để tạo ra các thích ứng mong muốn ở phía HS. Theo Nguyễn Bá Kim (2006), một trong các ý đồ sử dụng công nghệ thông tin truyền thông nhƣ công cụ DH là « tạo ra MT học tập tƣơng tác để ngƣời học hoạt động và thích nghi với MT.
Việc DH diễn ra trong quá trình hoạt động và thích nghi đó ».6 Sử dụng phần mềm Casyopee trong dạy học 1.1 Giới thiệu về phần mềm Casyopee Phần mềm Casyopee do giáo sƣ Lagrange, trƣờng Đại học Paris VII và các cộng sự nhƣ Geslis, phát triển từ những năm 2000. Sau đó với sự cộng tác của Le Feuvre, LePage phần mềm đã đƣợc thử nghiệm tại Viện Nghiên cứu Giảng dạy Toán học IREM de Rennes. Hiện nay phần mềm Casyopee đã đƣợc dịch sang phiên bản tiếng Anh và đã đƣợc giới thiệu trong dạy học Toán phổ thông ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Pháp, Ý, Hy Lạp, Việt Nam… 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tính năng của phần mềm Casyopee. Phần mềm Casyopee là phần mềm ứng dụng cho dạy học hàm số kết hợp với một số bài toán cực trị hình học.