đặt vấn đề phải u tranh chống lại những tai họa của thiên nhiên, quan tâm đến việc trồng cây và bảo vệ rừng, cắm phá rừng. Bác đã động viên và kêu gọi nhân dân ta tích cực trồng cây, giữ lầy màu xanh. của đất nước. Cho đến nay phong trào trồng cây ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Năm 1991, Bộ GD&ĐT đã có chương trình trồng cây hỗ trợ phát triển GD&DT và BVMT (1991- 1995). Chương trình đã đưa ra những căn cứ khoa học để nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo, phổ cập kiến thức môi trường ở Việt Nam, trên cơ sở đó xác định mục tiêu, nội dung, hình thức GDMT cho tất cả các đối tượng trong xã hội. Từ năm 1995, dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Việt nam (VIE 95/041) của Bộ GD&ĐT do UNDP tài trợ nhằm vào các mục tiêu cơ bản: Hỗ trợ xây dựng một bản chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia về GDMT tại Việt Nam; tăng cường năng lực của Bộ GD&ĐT trong việc truyền đạt những nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên; xây dựng các hoạt 12 động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp tiểu học và trung học. Những chủ đề về GDMT được lồng ghép vào các môn học có liên quan đến môi trường như: Hoá.
học, Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dan. Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ chính trị ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá. hiện đại hoá đất nước đã chỉ rõ: "BVMT là một vấn đẻ sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói, giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vỉ toàn thế giới”. Công văn 1320/CP-KG của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/11/1998 về việc tổ chức triển khai thực hiện chỉ thị số 36-CT/TW giao cho Bộ GD&ĐT chủ trì và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường: Bộ Kế hoạch va Đầu tư và một Hội quần chúng xây dựng để án “Đưa các ni ¡ dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân” trình Chính phủ.
Đề án có nội dung chủ yếu là: “Đưa các nội dung BVMT vào chương trình giáo dục phù hợp với từng đối tượng”, Quyết định số 1363/2003/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án "Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân". Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”. Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). Điều 155, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi 2014 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu: “Chuong trình chính khóa của các cấp học phổ thông phải có nội dung giáo dục về môi trường”, "Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực BVMT; khuyến khích mọi tô chức, cá nhân tham gia giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực BVMT” và "Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào 13 tạo chủ trì.
phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chỉ tiết chương trình giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực BVMT”. nay, các hoạt động GDMT được tiến hành một cách mạnh mẽ. Ngoài việc GDMT cho quần chúng nhân dân thông qua các phương tiện thông tỉn đại chúng rất đa dạng và phong phú (Chương trình “Dân số và môi trường" trường và đời sống”). Phong trào “Sach-Xanh-Dep” trong hoat dong giáo dục ở nhà trường đã đóng góp đáng kể vào hoạt dong GDMT.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Môi trường, bảo vệ môi trường, giáo dục môi trường 1. Môi trường Môi trường theo nghĩa rộng nhất là bao gồm tắt cả những gì có xung quanh một đối tượng mà người ta nói tới và có những mối quan hệ nhất định với nó. Nếu đối tượng đó là một cá thê sinh vật thì môi trường là tắt cả những gì trực tiếp và gián tiếp.
ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn tại của cơ thể đó [8|| Tùy theo cách tiếp cận mà các tác giả có những định nghĩa khác nhau về môi trường. Joe Whiteney (1993) cho rằng “Môi trường là tắt cả những gì ngoài cơ thể, có. liên quan mật thiết và ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất, nước, không. khí, ánh sáng, mặt trời, rừng, biển, tằng ozon, sự đa dạng các loài”.
Lương Từ Dung, Vũ Trung Giang (Trung Quốc) định nghĩa “Môi trường là hoàn cảnh sống của sinh vật, kể cả con người mà sinh vật và con người đó không thể tách rigng ra khỏi điều kiện sống của mình Nha địa lý học người Nga Geraximov cho rằng: "Môi trường là khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự giải trí nghỉ ngơi của con người”. Như vậy "Môi trường” bao gồm tắt cả các thành phần tự nhiên và nhân tạo ở xung quanh con người, giúp con người thỏa mãn mọi nhu cầu về lao động, nghỉ ngơi và giải trí. Khái niệm về môi trường được Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) sit dụng là iém do tổ chức UNESCO đưa ra vào năm 1981 "Môi trường 14 là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các các yếu tố vật chất do hoạt động con người tạo. ra, trong đó con người sinh sống bằng lao động, đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người” [7].
Trong từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê đưa ra khái niệm: “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy” [20]. Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam sửa đổi năm 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [16]. “Trong các tài liệu Giáo dục học, “Môi trường” được hiểu là hệ thống phức tạp. các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh cân thiết cho sự xinh hoạt và phát triển của con người [13].
Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau, bao quanh con người, có. ảnh hưởng tới đời sông, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Với nghĩa hẹp thì môi trường không xét tới tài nguyên thiên nhiên, nên môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tổ tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Ngoài ra còn có cách phân loại môi trường thành: Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo.
~ Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tô vật lý. tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người. Nếu con người ngừng tác động các yếu tổ này sẽ tiếp tục phát triển theo các quy luật tự nhiên vốn có của nó. - Môi trường xã hội là tổng thể các mỗi quan hệ giữa người với người tạo nên sự thuận lợi và trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng con người.
15 ~ Môi trường nhân tạo bao gồm các yêu tô vật lí, hóa học, sinh học, xã hội do con người tạo ra và chịu sự chỉ phối của con người. Các yếu tổ này sẽ tự phá hủy nếu không có sự tác động của con người. Như vậy, trường” là tất cả những gì có xung quanh chúng ta, cho ta cơ Sở. dé sng va phat trién.
Bảo vệ môi trường Con người tồn tại trong môi trường, hoạt động trong môi trường và con người cũng là nhân tố của môi trường. Do đó khái niệm BVMT bao gồi ~ Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ sự cân bằng sinh thái. Sử dụng tài nguyên một cách tiết kiệm, không lăng phí và có hiệu quả cao dựa trên các quy luật phát triển của tự nhiên. ~ Cải tạo, phục hồi các tài nguyên bị cạn kiệt.
Mục đích của cải tạo là phục hồi 'và nâng cao chất lượng của môi trường. ~ Chốngô nhiễm và suy thoái môi trường. Sự ô nhiễm nặng sẽ làm cho môi trường suy thoái. thay đổi, biến đổi khí hậu, đồng thời gây tác hại nghiêm trọng cho sự.
phát triển của sinh vật và con người. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật cao, các quy định xử phạt thật nghiêm đẻ ngăn chặn việc các công ty sả thải trực tiếp chất bân chưa qua xử lý vào môi trường làm ảnh hưởng đến đời sống của quần chúng nhân dân. ~ Bảo vệ tính đa dạng sinh học và các vốn gen di truyền quý hiếm. Các loài động vật và thực vật hoang dại chính là nguồn cung cấp giống cây trồng và vật nuôi cho loài người.
Vốn gen di truyền của chúng đã đóng góp cho sản xuất nông nghiệp. một nguồn giống quý giá để sản xuất ra lương thực thực phẩm, nguồn thuốc chữa bệnh và nhiều lợi ích khác. Sự tồn tại của chúng sẽ làm cho sự cân bằng sinh thái của môi trường được ôn định. Giáo dục môi trường.
Theo các tác giả Abe (1980), Kirk (1980) thì thuật ngữ “giáo dục môi trường" lần đầu tiên xuất hiện trên thé giới vào năm 1948. 16 Tại hội thảo *GDMT trong chương trình của trường học” của IUCN (Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên) năm 1970, GDMT được định nghĩa như sau: *GDMT là một quá tình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh con người. Hơn nữa GDMT cũng đồi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định và những hành động liên quan tới chất lượng môi trường”. Nhiều tài liệu khác về GDMT của các nước trên thế giới sau này đều đưa ra.
những định nghĩa về GDMT chứa đựng 2 mục tiêu lớn như định nghĩa của IUCN đã đề ra. Trong tài liệu của Dự án GDMT do Bộ Giáo dục và Đào tạo và chương tình Môi trường của Liên Hiệp quốc tô chức, GDMT được định nghĩa là “Một quá trình thường xuyên qua đó con ngườ nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, đẻ đáp ứng các yêu cầu của.