Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và nguyên tac lịch sự Xem xét ngôn ngữ trong hoạt động và hành chức, trong mối tương quan giữa người nói- người nghe - ngữ cảnh nói chung và nghĩa tình thái của câu nói riêng thì sé là thiếu thấu đáo nếu không nói đến lí thuyết hành vi ngôn ngữ. Vì vậy trước khi trình bày về chức năng tạo lập nghĩa tình thái của TTTTCC tiếng Việt (trong sự đối chiếu với phương tiện diễn đạt tương ứng của tiếng Hán- ngữ khí từ) luận văn xin được nêu khái quát vài nét cơ bản về lý thuyết hành vi ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ Như chúng ta đều biết, với tác pham “How to do things with words” (Tạm dịch: Những hành vi ngôn ngỡ) John.
Austin đã được coi là người đặt nền móng cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ. Lần đầu tiên sự phân biệt quá rạch rdi hai phạm trù ngôn ngữ và lời nói của F. Saussure được điều chính, không còn là một đường ranh giới cứng nhắc. Theo đó, đối tượng ngôn ngữ được bàn luận không chỉ đóng khung trong những cấu trúc trừu tượng đơn thuần mà còn gắn liền với thực tiễn hành ngôn sinh động.
Có thể nói, chỉ với lí thuyết hành vi ngôn ngữ thì ngôn ngữ mới thực sự được nhìn nhận như là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con TIBƯỜI. Đề xác định được nội dung thực sự của câu nói, Austin cho rằng phải tính đến yếu tố chủ quan trong ngôn ngữ và những nhân tố tình huống khác. Cùng một phát ngôn, nhưng được nói ra trong những tình huống khác nhau, hay kèm theo sắc thái tình cảm, đánh giá khác nhau của người nói mà được hiểu như một lời cảnh báo, một lời đe dọa hay chỉ là một thông báo đơn thuần. Xét ví dụ, phát ngôn: - Dao này sắc lắm day! sẽ chuyên tải những thông điệp giao tiếp rất khác nhau.
Nếu đây là lời mẹ nói với con thì mang nghĩa như một lời cảnh báo: đừng nghịch hay đừng sờ vào, sẽ đứt tay. 11 Nhưng nếu trong trường hợp hai thanh niên dang cãi lỗn, đánh dam lẫn nhau và một người giơ con dao lên và nói thì lại mang hàm ý đe dọa. Có thé khái quát tư tưởng cốt lõi của Austin như sau: nói là hành động, khi ta nói một câu, là ta đã thực hiện một hành vi ngôn ngữ nào đó, đặt trong một môi trường cụ thé, với những qui định đã được xác lập về mặt văn hóa, đạo đức, tôn giáo, tập quán. Ví dụ khác, khi người Việt nói “Chị đi chợ về day a?” / “Chị di đâu day?” thường họ không nhằm mục đích hỏi như được thê hiện trên chữ viết, mà thực chất là họ đã thực hiện hành vi chào, nhằm xác lập một mối quan hệ kiểm thông (phatic) nao đó (tức xác lập hay củng có một quan hệ hợp tác, thân tinh nao đó đối với người nghe).
Không hiểu điều này, người nước ngoài rất dé hiéu lầm là người Việt hay tò mò, nhòm ngó việc riêng của người khác. Austin còn cho rằng khi nói ra một câu đồng nghĩa với việc ta thực hiện ba loại hành vi ngôn ngữ: hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời. - Hành vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như: ngữ âm, từ, các tổ hợp từ và các kiểu kết hợp từ thành câu.để tạo ra một phát ngôn thành phẩm với một dạng thức cụ thê và một ý nghĩa ít nhiều xác định. - Hành vi tại lời: là hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nghe, như: ra lệnh, hứa hẹn.
- Hanh vi mượn lời: là hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ tao ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ mà người nói chủ ý muốn gây ra ở người nghe. Chang hạn một lời hứa hẹn sẽ làm người nghe thay phan chan, mừng rỡ. Mỗi hành vi này lại được chia thành các nhóm khác nhau dựa vào hướng khớp ghép với hiện thực và điều kiện thuận ngôn. Searle - môn đệ Searle của Austin là người đã nêu ra một cách chi tiết các điểu kiện thuận ngôn (felicitous conditions) cho việc thực hiện một hành vi ngôn ngữ nào đó.
Theo ông, để một hành vi ngôn ngữ nào đó được thực hiện, nó cần thỏa mãn 4 điều kiện thuận ngôn sau đây: a. Điêu kiện mệnh dé (propositional condition). 12 Chăng hạn, đối với hành vi xác quyết, thì điều kiện mệnh đề sẽ là: “cái mệnh đề được biểu thị sẽ tất yếu không phải hiển nhiên đúng đối với cả người nói và người nghe trong ngữ cảnh phát ngôn” (The expressed proposition must not be obviously true to both the speaker and the hearer in the context of utterance. Diéu kiện chuẩn bi (preparative condition).
Chang han, đối với hành vi xác quyết thì “người nói tat nhiên phải đưa ra được bằng chứng và lí do dé dam bao cho tính đúng đắn của cái mệnh đề được nói ra” (the speaker must be in a position to provide evidence or reasons for the truth of the expressed proposition). Điều kiện chân thành (sincere condition). Chang hạn, đối với hành vi xác quyết thì “người nói tin tưởng vào tinh đúng đắn của mệnh đề được biểu thị” (the speaker commits himself to a belief in the truth of the expressed proposition) d. Điều kiện bản chất (essential condition).
Chăng hạn, đối với hành vi xác quyết, thì “Khi người nói thực hiện một hành vi xác quyết thì người ấy đã ràng buộc mình vào tính đúng dan của mệnh đề được nói ra” (the maker of an assertion commits himself to the truth of the expressed proposition) [dẫn theo Keith Allan 1998]. Trong tiếng Việt, Nguyễn Thi Luong [1996] đã thử nghiệm dùng các điều kiện thuận ngôn này để phân tích và miêu tả ý nghĩa của các TTTTCC tiếng Việt. Từ đó, tác giả đi đến một sự phân loại rất đa dạng về các tiêu từ này, chăng hạn, đối với tiểu từ “a”, khi dùng trong câu hỏi có thé thực hiện những chức năng khác nhau như: hdi- chào, hỏi-xác nhận, héi-mia, hỏi-phê phán v. Nhưng danh sách các kiểu hành vi “hỗn hợp” được xác định theo cách thức như vậy rất dé bị bỏ sót một vài hành vi nào đó (vi dụ, ta dé dàng thêm được những hành vi như “hdi-déu”, “hỏi-tán tỉnh”, “hỏi- chửi” v.) và cách làm như vậy, nói chung là rất khó nêu thành quy tắc.
Trong luận văn này, ngữ nghĩa cũng như vai trò của các TTTTCC tiếng Việt trong việc diễn đạt ý nghĩa tình thái của phát ngôn sẽ được miêu tả theo một khung miêu tả tình thái được 13 xác định bởi Lê Đông- Nguyễn Văn Hiệp [2001] dựa trên cơ sở chỉ ra những thông tin phi miêu tả, hay thông tin ngữ dụng bé trợ mà tiêu từ tình thái góp vào câu nói. Nguyên tắc lịch sự Trong công trình “Logic và hội thoại” (Logic and conservation) của mình, Grice [1972] đã cho rằng: nguyên tắc lịch sự (politeness) là một nguyên tắc quan trọng điều khiển hoạt động giao tiếp, bên cạnh nguyên lý cộng tác hội thoại (co- operation). Quả thực, dường như các hiện tượng, quy luật hoạt động và ca cấu trúc ngôn ngữ đều chịu sự tác động của nguyên tắc lịch sự. Lay vi dụ trong tiếng Anh và tiếng Hán, khi yêu cầu ai đó làm gi, dé giảm nhẹ mức độ áp đặt, người Anh sẽ sử dụng chiến lược là tránh dùng thời hiện tại, thay vào đó bằng một thức quá khứ như “Would you.
Người Trung Quốc cùng một mục đích cuối cùng như vậy, người ta sẽ thêm động từ năng nguyện ở sau chủ ngữ: “HAE AGE. Đôi khi chỉ cần lựa chọn những ngữ khí từ tình thái khác nhau dé kết thúc câu, cũng giúp cho người Trung Quốc đạt được mục đích giao tiếp khác nhau xét trên khía cạnh lịch sự. Bởi mỗi ngữ khí từ tiếng Hán tự thân nó đã bao hàm mức độ lịch sự khác nhau. Theo Xu Jing Ning, tite, 220 Wl, ì§*“(HU]3L5JÑ| (Nghiên cứu tình thái ngôn ngữ, trang 220, ngữ khí từ và nguyên tắc lịch sự) thì có thể khái quát mức độ thé hiện tính lịch sự của một số ngữ khí từ như sau: “Wp, Mi], Ml” thuộc lớp từ [-lịch sự], thường được sử dụng giữa những người có mối quan hệ gần gũi, thân thiết, giao tiếp xuồng xã không cần lịch sự, khách sáo.
Nếu xét cụ thé hơn về mức độ [-lich su], thi ta có thứ tự như sau: ïW{|> Ilj>I# (ML kém lịch sự nhất rồi đến l#[ và sau cùng là RR). Ml bei: người nói có thái độ trách móc, chỉ trích người nghe. 14 If] a: do người nói năm chắc thông tin được nói ra và có ý bắt người nghe phải thừa nhận và châp hành một việc nào đó nên sắc thái câu thường lạnh nhạt, câu gân như một mệnh lệnh. Wk ma: có thé là người bê trên nói với người dưới hay lãnh đạo nói với nhân viên, trên cơ sở người nói đã biệt và năm chắc một sự tình nào đó và yêu câu người nghe thừa nhận, làm theo một cách nhẹ nhàng, tình cảm, vân cô găng giữ thê diện cho người nghe.
WE ne: thuộc lớp từ [+lịch sự]: muốn người nghe chú ý hơn đến điều mình nói, điều đó có thé là đúng hay sai, có thé là điều đã xảy ra hay còn nghi van cần giải đáp, nhưng nó không mang ý áp đặt, bắt buộc người nghe phải trả lời. Vì thế trong giao tế được dùng kha rộng rãi mà không chiu ràng buộc gi cả. NE ba: thuộc lớp từ [Hich sự]: trong cấu trúc {†⁄.HH! thường thé hiện một yêu cầu, đề nghị trên cơ sở tôn trọng ý kiến của người nghe, có ý mong mỏi người nghe đồng thuận với điều mình nói ra. Vì thế dù hai người đối thoại có quan hệ thân thiết gần gũi hay xa lạ thì đều thể hiện sự lịch sự.
Trong tiếng Việt, các TTTTCC là một trong những phương tiện linh hoạt nhất phục vụ cho nguyên tắc lịch sự. Bởi lẽ, không có lớp từ nào mà những nội dung phi miêu tả (sẽ được chúng tôi làm rõ trong chương tiếp theo) lại được dung hợp một cách tế nhị trong ngữ nghĩa của lớp từ này. Có tác giả như Nguyễn Văn Hiệp [2004] đã thử nghiệm dùng tiêu chí [+/- lịch sự] để tiến hành miêu tả và phân loại các TTTTCC tiếng Việt. Chang han, tác giả cho rằng tiêu từ “nhé” thuộc lớp các tiéu từ [+lịch sự].
“Với “P nhé!”, người nói nêu ra một đề nghị, được thể hiện như là một mong muốn, một nguyện vọng chủ quan của mình. Tuy nhiên, người nói tỏ ra không có ý định áp đặt mà vẫn để ngỏ các khả năng lựa chọn cho chính người nghe.