CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và tính mới của đề tài 1. Tình hình nghiên cứu thành ngữ 1. Ở Hàn Quốc Đề tài về thành ngữ ở Hàn Quốc từ xưa là một hướng nghiên cứu được rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như ý nghĩa, tính ẩn dụ và nội hàm văn hoá trong thành ngữ,… Một vài học giả tiêu biểu như Kim Young Cheol (2003), Shim Ji – Yeon (2009), Lee Nam (2010),… *Với hướng nghiên cứu thành ngữ tiếng Hàn, có những công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Kim Young Cheol (2003) trong nghiên cứu 우리말 관용어의 상징 의미 연구 : 색채어를 대상으로 (Nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ với đối tượng là những từ chỉ màu sắc) đã xem xét ý nghĩa của thành ngữ trong tiếng Hàn, đặc biệt xem xét những thành ngữ có chứa đối tượng từ ngữ màu sắc về ý nghĩa.
Bên cạnh đó xem xét thêm về khía cạnh kinh nghiệm về bản thân con người hoặc bối cảnh của nền văn minh văn hóa trong thành ngữ có yếu tố chỉ màu sắc. Shim Ji-Yeon (2009) trong nghiên cứu 국어 관용어 의미에 나타나는 은환유성에 대한 연구 (Nghiên cứu về tính ẩn dụ xuất hiện trong thành ngữ) đã phân tích ý nghĩa của thành ngữ tiếng Hàn trên quan điểm thẩm mỹ nhận thức và hiện thực hóa cấu trúc phạm trù ý nghĩa của thành ngữ tiếng Hàn. *Với hướng nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Hàn với một ngôn ngữ khác, có những nghiên cứu tiêu biểu như sau: Luận án tiến sĩ (2008) “한 - 중 관용어의 표현 양상과 내포 문화 비교” (Đối chiếu các biểu hiện thành ngữ Hàn - Trung và nội hàm văn hoá trong thành ngữ) của tác giả Hwang Jeong Ah đã tiến hành đối chiếu thành ngữ tiếng Hàn và tiếng Trung nhằm tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt về nội hàm văn hoá đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao nhận thức của người Hàn Quốc, Trung Quốc nói riêng và người phương Đông nói chung về đặc điểm văn hoá trong thành ngữ. Nghiên cứu đã xem xét phạm vi và phân loại của các thành ngữ liên quan đến cơ thể, so sánh các thành ngữ liên 4 quan đến "tay" và "chân" để sắp xếp nội dung.
Cuối cùng, thông qua việc so sánh các thành ngữ liên quan đến cơ thể Hàn Quốc - Trung Quốc, nghiên cứu đã tìm kiếm được phương án giáo dục hiệu quả cho học giả Trung Quốc. Năm 2016, tác giả Jeong A Young nghiên cứu về ý nghĩa nhận thức dựa vào 12 con giáp trong thành ngữ tiếng Hàn so sánh với tiếng Trung trong công trình “한 - 중 동물 관용어에 대한 인지의미론적 연구 (Nghiên cứu về ý nghĩa nhận thức dựa vào 12 con giáp trong thành ngữ tiếng Hàn so sánh với tiếng Trung).” Chỉ hai năm sau, tác giả E Yeop (2018) cũng đã nghiên cứu về thành ngữ tiếng Hàn qua ý nghĩa biểu tượng dựa vào 12 con giáp trong thành ngữ tiếng Hàn so sánh với tiếng Trung trong công trình “한 - 중 12 띠 동물의 상징의미 대조를 통한 한국어 교육용 관용어 연구 (Nghiên cứu về ý nghĩa biểu tượng dựa vào 12 con giáp trong thành ngữ tiếng Hàn so sánh với tiếng Trung). Ở Việt Nam Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ trên nhiều bình diện như nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và phát triển, nghiên cứu về ngữ nghĩa nói chung hay đối chiếu ngữ nghĩa thành ngữ trong các ngôn ngữ,. Tiêu biểu như các tác giả: Nguyễn Đức Dân (1986), Hoàng Văn Hành (1987), Phan Xuân Thành (1990, 1992, 1995), Nguyễn Như Ý (1992),.
Khi đặt thành ngữ dưới góc độ nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ cụ thể là về đặc điểm ngữ pháp nói chung và cấu trúc nói riêng, thành ngữ có cấu trúc ổn định bao gồm thành phần trung tâm và phần phụ trước, phụ sau. Bên cạnh đó, thành ngữ còn có trường nghĩa đa dạng, phong phú vì nó ẩn chứa nhiều tầng nghĩa ẩn dụ sau những nghĩa đen của những từ ngữ thành phần. *Với hướng nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, có những công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Tác giả Trịnh Cẩm Lan (1995) khi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa và những giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt trên cứ liệu thành ngữ có yếu tố cấu tạo là tên gọi động vật” đã nghiên cứu đối tượng là thành tố động vật trong thành ngữ. Những nghiên cứu của các tác giả như Trương Đông San (1985), Hoàng Văn Hành (1979) thì đi sâu vào nghiên cứu một tiểu loại nhỏ hơn của thành ngữ tiếng Việt là thành ngữ so sánh.
Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Văn Hằng (1999) với công trình nghiên cứu “Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại” đã đóng góp một lối đi riêng, một tiếng nói quan trọng vào việc nghiên cứu thành ngữ đối chiếu. 5 *Với hướng nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Hàn với một ngôn ngữ khác, có những nghiên cứu tiêu biểu như sau: Lê Thị Thương (2009) trong công trình Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ Hàn – Việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật (nhìn từ góc độ ngôn ngữ – văn hóa), đã nghiên cứu các thành ngữ Hàn – Việt có chứa tên các con vật từ góc nhìn ngôn ngữ – văn hóa giữa hai quốc gia. Huang Cong (2019) trong công trình Đối chiếu thành ngữ Hán – Việt có yếu tố ẩm thực đã nghiên cứu đối chiếu song song về thành ngữ có yếu tố chỉ ẩm thực trong tiếng Hán và tiếng Việt trên bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa. Về tình hình nghiên cứu thành ngữ có yếu tố chỉ HTTN 1.
Ở Hàn Quốc Trong công trình nghiên cứu 한국어 관용어의 상징 의미 연구 (Nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ tiếng Hàn) của tác giả 알탄졸 (2015) đã tiến hành phân tích những ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ tiếng Hàn với trọng tâm là những thành ngữ chứa từ chỉ thiên nhiên và hiện tượng tự nhiên. Qua đó có thể thấy trong tiếng Hàn, phương diện thành ngữ chứa yếu tố từ chỉ hiện tượng tự nhiên vẫn chưa được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam Thành ngữ tiếng Việt có yếu tố từ chỉ HTTN từng xuất hiện trong bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồ Phương Chi trong bài viết “Thời tiết trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh” đăng trên tạp chí “Ngôn ngữ và đời sống” năm 2011. Bài viết trình bày một số thành ngữ, tục ngữ có yếu tố thời tiết thông dụng mà người học tiếng Anh thường gặp và so sánh với một số thành ngữ, tục ngữ tương tự trong tiếng Việt.
Bên cạnh đó, trong luận văn thạc sĩ “Thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt” của Nguyễn Trung Kiên (2018) đã chỉ được ra một số đặc điểm về ngữ pháp, ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ có từ ngữ thuộc trường nghĩa thời tiết trong tiếng Việt. Về yếu tố từ chỉ hiện tượng tự nhiên dù là một trong những chất liệu quan trọng cấu tạo nên thành ngữ nhưng lại chưa nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trước đó, luận văn nhận thấy các nghiên cứu kể trên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một chiều về những thành ngữ có yếu tố chỉ HTTN. Bên cạnh đó, các đề tài đối chiếu về thành ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt chỉ mới được xét ở những yếu tố như bộ phận cơ thể, động vật, v.v… mà chưa có nghiên cứu nào tiến hành so sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Hàn – Việt nhằm tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt về tư duy và nhận thức đối với nhóm thành ngữ này của người dân hai quốc gia.
Qua đó, luận văn xác định đề tài nghiên cứu là đối chiếu thành ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt có yếu tố chỉ hiện tượng tự nhiên, tiến hành nghiên cứu một hướng đi mới hơn, cụ thể hơn. Khái niệm thành ngữ 1. Thành ngữ tiếng Hàn Từ trước đến nay khi xét về khái niệm “thành ngữ”, khái niệm Idioms (thành ngữ) của phương Tây có nhiều điểm tương đồng về đặc điểm, tính chất với khái niệm 관용어 trong tiếng Hàn. Tuy nhiên, trong quá trình dịch ngôn ngữ từ tiếng Hàn sang tiếng Việt, khái niệm 관용어 tuỳ trường hợp lại được chuyển ngữ thành “quán dụng ngữ” hoặc “thành ngữ”, qua đó nghiên cứu nhận thấy chưa có được sự thống nhất trong cách sử dụng thuật ngữ.
Trong quá trình nghiên cứu, khi xét về đặc điểm ngôn ngữ, luận văn nhận thấy khái niệm 관용어 trong tiếng Hàn và khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt có sự tương đồng về cấu tạo cũng như đặc điểm ngữ nghĩa. Vì vậy, luận văn xác định dùng thuật ngữ 관용어 với ý nghĩa là thành ngữ trong tiếng Hàn. Trong các từ điển tiếng Hàn, khái niệm 관용어 (thành ngữ) được hiểu như sau: • Theo Đại từ điển quốc ngữ (국어대사전), thành ngữ được định nghĩa là: (1) những lời nói thường được sử dụng như thói quen (2) những lời nói không theo logic về mặt ngữ pháp nhưng vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhiều năm. Thông thường, người ta định nghĩa thành ngữ như là một “cái tên” cho việc sử dụng gắn kết hơn hai từ hoặc những biểu hiện được kết hợp và ý nghĩa độc đáo của toàn thể.
Khi bàn đến khái niệm thành ngữ tiếng Hàn, các học giả Hàn Quốc đã trình bày những quan điểm như sau: • Học giả Heo Seok (1989) đã đưa ra quan điểm rằng thành ngữ là những cụm từ như: “미역국을 먹다(tạm dịch: ăn canh rong biển), 바가지를 쓰다(tạm dịch: đội gáo), 옷을 벗다(tạm dịch: cởi áo quần), 지도를 그리다 (tạm dịch: vẽ bản đồ),.” và chúng ta không thể xác định ngữ nghĩa của chúng từ ý nghĩa của các yếu tố cấu thành mà chính là hình thái của cụm và vế câu đã hình thành nên một ý nghĩa mới. • Học giả Hwang Sumi (1994) đã định nghĩa thành ngữ là hình thức ngôn ngữ được sử dụng phổ biến với đại chúng như một thói quen, có ý nghĩa đơn nhất do thành ngữ có tính ẩn dụ được cố định theo lịch đại và là thể từ phức hợp được kết hợp theo tính cú pháp. • Học giả Lee Yeonsuk (1996) đã đưa ra khái niệm về thành ngữ là những cụm kết hợp hơn hai đơn vị từ vựng, có tính ẩn dụ nên không mang ý nghĩa kết hợp của các yếu tố cấu thành mà mang ý nghĩa khác, thành ngữ là hình thức ngôn ngữ đặc biệt và thông dụng do được cộng đồng xã hội sử dụng rộng rãi.