từ bỏ nguyên tắc này. Học thuyết Privity, đặc biệt là quy tắc thứ hai, từng gặp đối kháng trong vu Beswick vs Beswick (1967). Một hợp đồng đã được ký kết giữa một ông chủ 70 tuôi, kinh doanh than ở Lancashire và cháu trai của ông, đồng thời là người làm công trong cơ sở kinh doanh của mình. Ông chủ này đã chuyển nhượng lại cơ sở kinh doanh than của mình cho cháu trai và yêu cầu người cháu trai phải trả cho ông 6£ mỗi tuần cho đến khi ông chết và sau khi ông qua đời thì phải trả 5£ mỗi tuần cho người vợ góa phụ của ông.
Khi người ông già qua đời, người cháu đã không trả bất cứ một khoản tiền nào cho bà góa phụ. Và bà đã kiện người cháu để đòi lại lợi ích của mình và quyền đối với tài sản của người chồng quá cố. Trong vụ việc này, thâm phan Tòa phúc thâm Lord Denning MR đã xử cho bà góa phụ với tư cách là một bên khác được chỉ định rõ để hưởng một lợi ích theo hợp đồng được phép yêu cầu tòa án buộc người cháu thực hiện các Điều khoản trả lợi ích cho mình theo hợp đồng đã giao kết trước đó với người chồng quá cố. Tuy nhiên, quan điểm này không nhận được sự đồng tình từ cấp có thẩm quyền cao hơn.
Theo đó, Thượng nghị viện Anh đã đưa ra phán quyết chung thâm: chỉ cho phép bà quả phụ Beswick yêu cầu người cháu phải trả cho mình một khoản trợ cấp hàng năm theo cam kết với người chồng đã quá cố của mình là người có tài sản (bất động sản) để lại sau khi qua đời mà không có di chúc theo tư cách là đại diện của người đã chết; chỉ cho phép bà yêu cầu người cháu thực hiện hợp đồng giới hạn ở một số hành vi cụ thể khác bởi bà không phải là một bên trong hợp đồng đối với người cháu và do đó không có quyền kiện yêu cầu đòi hưởng lợi ích cho mình. Thuyết Privity từng bị chỉ trích là một thiếu sót lỗi thời mà nhiều năm bị coi là một lỗ hồng của luật pháp Anh. Quan điểm chống lại học thuyết Privity chỉ đơn giản là pháp luật phải tôn trọng ý chí của các bên. Nếu các bên trong hợp đồng đã đồng ý rằng một bên thứ ba không liên quan đến việc giao kết hợp đồng có quyền yêu cầu một trong các bên phải thực hiện lời hứa thì thỏa thuận đó phải được tôn trọng.
Các yêu cầu đó tất nhiên phải được đáp ứng, nhưng không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, lừa đối hoặc cưỡng ép. Bên thứ ba cũng được phép kiện về những gi đã hứa cho mình. Học thuyết này đã trở thành chủ đề của một cuộc cải cách lớn. Ủy ban pháp luật Anh đã đưa ra một báo cáo trong năm 1996 về hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba.
Báo cáo này chỉ ra rang trong một số trường hợp, học thuyết Privity không còn được áp dụng. Điều này dẫn đến việc Đạo luật về quyền của bên thứ ba trong hợp đồng năm 1999 được thông qua. Từ đó học thuyết Privity chỉ được áp dụng rất hạn chế. Đạo luật đã tạo ra những thay đổi đáng ké cách thức mà hợp đồng có thể được thực thi bởi bên thứ ba.
Theo luật mới, bà Beswick có thể sẽ được khởi kiện người cháu của mình vì lợi 197 ích của chính bà. chứ không chỉ với tư cách là người đại diện đề quản lý bất động sản của chồng. Trong Đạo luật nêu trên ở nước Anh, việc xác định tư cách của bên thứ ba trong hợp đòng được quy định tại Điều 1, các khoản 1, 2 và 3. Tại Điều luật này, trước hết khoản 1 quy định tùy thuộc vào việc áp dụng các Điều khoản của Đạo luật, người không phải là một bên trong hợp đồng, gọi là “bên thứ ba”, có quyền kiện ra tòa án yêu cảu thực thi một Điều khoản của hợp đồng trong hai trường hợp: (a) hợp đồng diễn đạt rõ ràng người ấy có quyền như vậy, hoặc (b) tùy thuộc vào việc áp dụng khoản 2 của Điều luật, hợp đồng nhăm mang lại một lợi ích cho người đó.
Tiếp theo, khoản 2 Điều luật loại trừ việc áp dụng quy định tại trường hợp thứ hai vừa nêu khi thỏa mãn điều kiện là việc giải thích hợp đồng đúng đắn chứng tỏ rằng các bên trong hợp đồng không nhằm mục đích mang lại cho bên thứ ba quyền kiện ra tòa yêu cầu thực thi Điều khoản đó của hợp đồng. Như vậy, nếu các bên không muốn bất kỳ một người nào khác có quyền kiện yêu cầu thực hiện Điều khoản trong hợp đông thì họ có thể nói rõ trong hợp đồng. Làm rõ hơn nội dung cho phép bên thứ ba kiện ra tòa án yêu câu thực hiện một Điều khoản của hợp đồng quy định tại Khoản 1 như vừa được trích dẫn, Điều 1(3) của Đạo luật tiếp tục quy định bên thứ ba phải được xác định trong hợp đồng theo tên hoặc là thành viên của một giai tầng hoặc trên cơ sở đáp ứng điều kiện như được miêu tả nhưng không nhất thiết bên này phải đã tồn tại ở thời điểm giao kết hợp đồng. Quyền của bên thứ ba có thé được trao cho một công ty chưa được thành lập, một thai nhi hoặc là người chồng, vợ tương lai, V.
Liên quan đến các nội dung trên, bên cạnh định nghĩa về “bên thứ ba”, Đạo luật còn đưa ra định nghĩa về “người có nghĩa vụ” và “người có quyền” nêu tại khoản 7 Điều 1. Cụ thể: “người có nghĩa vụ” là bên trong hợp đồng đối kháng với người mà xuất phát từ người đó một Điều khoản hợp đồng có thể được yêu cầu thực thi bởi bên thứ ba, và “người có quyền” là bên trong hợp đồng mà xuất phát từ người đó một Điều khoán của hợp đồng có thể được yêu cầu thực thi đối kháng với người có nghĩa vụ. Ngoài ra, các khoản 4, 5, 6 Điều 1 Đạo luật Anh về quyền của bên thứ ba trong hợp đồng còn quy định rằng bên thứ ba chỉ được quyền kiện ra tòa án yêu cầu thực thi một Điều khoản thuộc về nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng, không thể là một Điều khoản năm ngoài hợp đồng đã giao kết cùng với yêu cầu phải đảm bảo phù hợp với bất kỳ Điều khoản khác có liên quan trong hợp đồng (khoản 4); bên thứ ba khi đó không chỉ được phép áp dụng bắt kỳ biện pháp khắc phục nào như trường hợp bên này là một bên của hợp đồng kiện bên khác vi phạm hợp đồng mà còn được phép áp dụng các quy tắc liên quan đến bồi thường thiệt hại, đến yêu cầu tòa án ban hành các án lệnh, đến hành vi thực hiện cụ thể và các sự đền bù khác (khoản 5); và trong trường hợp hợp đồng có Điều khoản loại trừ hay giới hạn trách nhiệm của bên thứ ba trong việc yêu 198 cầu tòa án thực thi các Điều khoản của một hợp đồng có liên quan, Điều khoản đó phải được giải thích theo hướng bên thứ ba đồng tình với sự loại trừ hay sự giới hạn trách nhiệm đó (khoản 6). Tuy chỉ là bên thứ ba với nghĩa không trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng nhưng lại được hưởng lợi ích từ quá trình thực hiện hợp đồng đó, nên việc sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng gắn với quyền của bên thứ ba trong hợp đồng rõ ràng là vô cùng quan trọng đối với bên thứ ba.
Thể hiện rõ tính chất này, khoản 1 Điều 2 Đạo luật Anh về quyền của bên thứ ba trong hợp đồng xác định rõ: trong trường hợp bên thứ ba theo quy định tại Điều 1, như đã được trích dẫn ở trên, được hưởng quyền yêu cầu tòa án thực thi một Điều khoản của hợp đồng thì các bên của hợp đồng không được phép thỏa thuận hủy bỏ hoặc sửa đôi hợp đồng có hậu quả tiêu trừ hoặc thay đổi quyên lợi của bên thứ ba mà không có sự đồng ý của bên thứ ba trong ba trường hợp: (a) bên thứ ba đã thể hiện sự đồng ý của mình về Điều khoản liên quan đến người có nghĩa vụ; (b) người có nghĩa vụ biết rằng bên thứ ba đã cậy vào Điều khoản đó; hoặc (c) có lý do hợp lý để cho rằng người có nghĩa vụ đã biết trước rằng bên thứ ba sẽ cậy vào Điều khoản đó và bên thứ ba trong thực tế cũng đã cậy vào Điều khoản như vậy. Nếu áp dụng một trong ba tình huống này, nếu sau đó có bất kỳ sự thay đổi hoặc hủy bỏ thi chỉ có thé diễn ra với sự đồng ý của bên thứ ba. Lay ví dụ: ông C được hưởng một khoản tiền trị giá 1.000$ từ B theo hợp đồng thỏa thuận giữa A va B. Vi tin cậy vào lời hứa hẹn đó mà ông C đã tiêu một số tiền mà ông hi vọng là đủ để ngăn A và B hủy bỏ lời hứa, với điều kiện là B đã biết hoặc có lý do hợp lý để suy luận rằng C đã dựa vào lời hứa.
Trong trường hợp này, A và B không được phép thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng. Lưu ý rằng sự đồng ý đề cập đến trong trường hợp thứ nhất có thể được thể hiện thông qua lời nói hoặc hành động và sự xác nhận đồng ý như vậy được gửi đến cho người có nghĩa vụ qua đường bưu điện hoặc qua phương tiện khác sẽ không được xem là đã được gửi cho tới khi người có nghĩa vụ nhận được chúng. Tuy nhiên, các trường hợp nêu trên không bat biến do chúng chịu sự tác động của các ngoại lệ nêu tại khoản 3 Điều 2, theo đó cho phép các bên trong hợp đồng, tùy thuộc vào bat kỳ cam kết nào phải được thé hiện rõ ràng trong hợp đồng - có thể thỏa thuận hủy bỏ hoặc sửa đổi hợp đồng không cần có sự đồng ý của bên thứ ba hoặc sự đồng ý của bên thứ ba được yêu cầu trong những hoàn cảnh tình huống được nêu cụ thể trong hợp đồng thay cho các hoàn cảnh tình huống quy định trong các trường hợp quy định tại khoản 1.