Chương 1: Một sé van đề lý luận về so sánh pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Chương 2: Thực trạng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi giữa Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh; Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc va nghỉ ngơi của Việt Nam. MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE SO SÁNH PHÁP LUẬT VE THỜI GIO LAM VIỆC, THỜI GIO NGHĨ NGƠI 1. Khái quát về so sánh pháp luật 1. Khái niệm so sánh pháp luật Khi nói đến luật so sánh với tư cách là một môn học, các học giả thường xuyên có những tranh luận xoay quanh hai thuật ngữ “luật so sánh” và “luật học so sánh”.
Trong cuốn Giáo trình luật học so sánh xuất bản năm 2002, PGS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng thuật ngữ “luật học so sánh” có ý nghĩa bao quát hơn, rộng lớn hon so với thuật ngữ “luật so sánh”[Š53]. Ban thân “luật học” đã gợi lên một bộ môn khoa học mà ở đó pháp luật là trung tâm, là đối tượng nghiên cứu của bộ môn đó. “Luật học so sánh” theo đó suy rộng ra là lý luận, hay là môn khoa học trong các ngành khoa học pháp lý. Mục đích của nó là nghiên cứu và so sánh các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống pháp luật khác nhau với nhau và với các quy phạm của luật quốc tế, làm sáng rõ sự giống nhau và khác nhau, xác định khuynh hướng phát triển chung của pháp luật [28,tr.
Trong khi đó, nội ham của khái niệm “luật so sánh” được Giáo sư Michael Bogdan đúc kết thành ba ý chính như sau trong cuốn Comparative Law xuất bản năm 1994. Luật so sánh hay so sánh pháp luật bao gồm việc: - “So sánh các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt; - Sử dụng những sự tương đồng và khác biệt đã tìm ra nhằm giải thích nguồn sốc, đánh giá cách giải quyết trong các hệ thống pháp luật, phân nhóm các hệ thống pháp luật hoặc tìm ra những vấn đề cốt lõi, cơ bản của các hệ thống pháp luật và - Xử lý những van dé mang tính chất phương pháp nảy sinh trong quá trình so sánh luật, bao gồm cả những van đề khi nghiên cứu luật nước ngoài” [35,tr. Khái niệm luật so sánh theo K.Koetz là “sự so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, và bản thân thuật ngữ này đã gợi lên một hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực pháp luật mà đối tượng và sự so sánh ở đó là quy § trình của hoạt động nay. Kamba cũng đã nêu lên quan điểm “Luật so sánh là việc nghiên cứu pháp luật bằng cách so sánh một cách có hệ thống hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật; hoặc các bộ phận, ngành, khía cạnh của hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật” [68,tr.Koetz, phạm vi của luật so sánh theo khái niệm của W.
Kamba lại hướng đến những đối tượng vi mô hơn, thay vì chỉ là các hệ thống pháp luật thì khái niệm này đề cập đến cả những ngành luật, bộ phận (ở đây hiểu là các quy phạm pháp luật) của hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Các học giả Việt Nam cũng đã cô gắng đi tìm một định nghĩa chung về so sánh pháp luật song vẫn chưa có một định nghĩa chính xác nào được đưa ra. Đa phần trong các giáo trình, công trình nghiên cứu, các tác giả viện dẫn lại quan điểm của Michael Bogdan, K.Koetz từ đó đưa ra quan điểm của cá nhân, điều này cho thấy các khái niệm mà họ đưa ra đã mang tính khái quát cao, nó có thê được vận dụng một cách tương đối rộng rãi bởi so sánh pháp luật không phải là một ngành luật riêng biệt, chứa đựng các quy phạm pháp luật của một quốc gia. Ví dụ như trong bài viết “Luật học so sánh và việc dạy Luật so sánh ở Việt Nam: Từ một quan điểm tới một quan điểm về một số vấn dé cơ bản” — tác giả Ngô Huy Cương đưa ra định nghĩa: “Luật so sánh là một bộ môn khoa học pháp lý tong quát sử dụng phương pháp so sánh làm trọng yếu dé nghiên cứu các vấn dé pháp luật thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau; nghiên cứu hệ thống pháp luật của các nước một cách tách biệt; và nghiên cứu việc sử dụng, cũng như hiệu quả của phương pháp so sánh”.
Khái niệm này nhìn so sánh pháp luật dưới góc nhìn của một bộ môn khoa học pháp lý và phương pháp nghiên cứu chủ yếu của bộ môn này là so sánh. Tác giả Nguyễn Văn Quang trong bài viết “Luật học so sánh và cấy ghép pháp luật: Van đề phương pháp luận và cải cách hệ thống pháp luật Việt Nam” lại coi luật học so sánh là một phương pháp nghiên cứu luật học [39]. Từ những quan điêm trên, tác giả nhận thây có một câu hỏi lớn xuyên suôt 9 quá trình tìm hiéu về lý luận so sánh, đó là: So sánh pháp luật có đơn thuần chỉ là một phương pháp nghiên cứu? Có thé thay rang các học giả đều không công nhận luật so sánh là một ngành luật hay lĩnh vực pháp luật thực định như luật hình sự, luật dân sự. Nó không phải là một ngành luật, không bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội [50,tr.
So sánh pháp luật cũng không chỉ đơn thuần là một phương pháp nghiên cứu. Đồng ý rằng việc sử dụng phương pháp so sánh là cách thức chủ yếu dé tiếp cận tới các hệ thống pháp luật khác nhau nhưng “So sánh pháp luật” phải là một quá trình vừa rút ra những điểm tương đồng khác biệt, vừa đúc kết được khuynh hướng phát triển của pháp luật. Từ những hiểu biết đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật. Việc định nghĩa thế nào mới là so sánh pháp luật hiện vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều, chăng vậy mà thế giới vẫn chưa tìm được một định nghĩa chung về luật so sánh.
Ngày nay, luật so sánh là một lĩnh vực đa ngành giao cắt với nhiều lĩnh vực khác nhau như nhân học, xã hội học, khoa học chính tri và kinh tế. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc thúc day sự điều hòa về pháp lý, tạo điều kiện cho hợp tác vượt biên giới và nâng cao sự hiểu biết về sự đa dạng pháp luật trong một thé giới hội nhập. Tuy có nhiều luồng ý kiến khác nhau giữa các học giả trên thế giới về luật so sánh nhưng nhìn chung, đã nói đến “so sánh” tức là đặt hai hay nhiều đối tượng trong mối quan hệ ngang bằng dé tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng. Vẫn đề đối tượng của luật so sánh cũng gây ra những tranh luận giữa các học giả luật vì xét cho cùng, riêng định nghĩa luật so sánh là gì cũng đã là một câu hỏi chưa có câu trả lời hợp lý chung.
Theo nghĩa rộng, đối tượng của luật so sánh chính là các hệ thống pháp luật. Michael Bodgan có quan điểm “không thé coi là so sánh luật nếu như quá trình đó không nham tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật. Ông không đồng tình với việc chỉ so sánh một khía cạnh của pháp luật quốc gia này với quốc gia khác, cho rằng đây là sự so sánh mang tính trực 10 giác, bộc phát và không thê coi đó là so sánh luật. Riêng khái niệm “hệ thống pháp luật” cũng có những cách hiểu khác nhau.
Nhiều học giả cho rằng “hệ thống pháp luật” chính là hệ thống pháp luật quốc gia, là tập hợp tất cả các quy phạm pháp luật của quốc gia. Một số khác lại cho răng “hệ thống pháp luật” ám chỉ đến nhóm pháp luật của những quốc gia hay vùng lãnh thổ mà hệ thống pháp luật có nhiều điểm chung nhất định. Hay nó còn được gọi với cái tên khác là “dong họ pháp luật” (legal family). Hiện có hai dong họ pháp luật lớn, phổ biến trên thé giới là dong họ pháp luật dân sự (Civil Law) và dòng họ pháp luật thông luật (Common Law).
Việc phân loại này giúp các nhà nghiên cứu, học gia và nhà thực hành pháp luật hiểu rõ hơn về sự khác biệt và tương đồng giữa các hệ thống pháp luật, từ đó thúc đây sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau trên phạm vi quốc tế. Về van đề đối tượng của so sánh pháp luật, cũng có quan điểm trái chiều cho rằng việc so sánh pháp luật không chỉ là so sánh các hệ thống pháp luật mà còn là so sánh những quy phạm pháp luật của các hệ thống pháp luật khác nhau. Ngô Huy Cương trong bài viết của mình cũng đã nêu rằng “. đặc điểm nỗi trội của luật so sánh là việc sử dụng phương pháp so sánh, và đối tượng của nó là pháp luật và bản thân phương pháp so sánh” [28,tr.
Hay như tác giả Võ Khánh Vinh trong cuốn Giáo trình luật học so sánh xuất ban năm 2002 cho rằng “., Mục đích của nó (luật học so sánh) là nghiên cứu và so sánh các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thong pháp luật khác nhau với nhau va với các quy phạm cua luật quốc té. Nguyễn Quốc Hoan cũng đã bày tỏ quan điểm: “.các quy phạm, chế định hay các giải pháp pháp luật được so sánh trong Luật so sánh không thuộc cùng hệ thống pháp luật. Tức là đối tượng của luật so sánh có thể là các quy phạm, chế định, giải pháp pháp luật thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau [50. Như vậy, cùng là đối tượng của luật so sánh nhưng cách tiếp cận van đề của mỗi học giả lại có sự khác biệt.
Ở Việt Nam, nhiều học giả thừa nhận đối tượng của luật so sánh không chỉ có các hệ thống pháp luật mà còn là các quy phạm, chế định của các hệ thống pháp luật khác nhau. Đây cũng là một tư duy mở, cho phép các nhà làm luật, các học giả có thê nghiên cứu một cách sâu rộng hơn vê từng 11 quy định pháp luật cụ thể. Nhất là khi nhu cầu về cải cách pháp luật là luôn luôn hiện hữu và việc so sánh là cần thiết dé rút ra bài học kinh nghiệm cho pháp luật quốc gia.