Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ DÂN TỘC NÙNG Ở VIỆT NAM VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGỮ ÂM TIẾNG NÙNG 1. Sơ lược về dân tộc Nùng ở Việt Nam 1.1 Dân số và ñịa bàn cư trú Theo “Tổng ñiều tra dân số năm 1989”, dân tộc Nùng có 705. 10 năm sau, theo “Tổng ñiều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999” thì dân tộc Nùng có 856.412 người, và ñến năm 2000 thì dân số tăng lên 900.000 người1, là dân tộc có dân số ñông hàng thứ 6 trên 53 dân tộc thiểu số sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Ở Việt Nam, dân tộc Nùng cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi nằm giữa vùng ðông Bắc và Tây Bắc.
Có thể nói người Nùng cư trú trên một vùng rộng lớn phía Bắc, kéo dài từ Lào Cai ñến Quảng Ninh, xen kẽ với dân tộc Tày và các dân tộc khác. Hai tỉnh có số người Nùng cư trú ñông nhất là Lạng Sơn (302.415 người) và Cao Bằng (161. Ngoài ra người Nùng còn cư trú ở Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai, Bắc Giang, Yên Bái. Vài chục năm trở lại ñây, một bộ phận người Nùng di cư ñến vùng kinh tế mới, nên ở một số tỉnh miền Nam, Tây Nguyên ñã có người Nùng cư trú như ở ðắc Lắc, Lâm ðồng, ðồng Nai [6;57], [26;11].
Ngoài lãnh thổ Việt Nam, dân tộc Nùng còn cư trú ở các tỉnh Quảng ðông, Quảng Tây (Trung Quốc).2 Nguồn gốc lịch sử tộc người Cho ñến nay, vẫn chưa có một nhận ñịnh thống nhất về lịch sử tộc người và những ñặc trưng văn hoá của người Nùng ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu mới chỉ thống nhất ở nhận ñịnh: Nùng là tộc danh của dân tộc Nùng, một trong những dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Kadai. 1 Theo Sổ tay công tác dân tộc và miền núi. NXB Hà Nội, năm 2000, 238 trang.
Hứa Ngọc Tân - 10 - Luận văn Cao học Tư liệu Hán văn của Việt Nam ghi chép về người Nùng sớm nhất có lẽ là trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý ðôn (thế kỷ XVIII). Qua những ghi chép trong tác phẩm này chúng ta biết ñược người Nùng thuộc 12 thổ châu thuộc Trung Quốc di cư ñến Việt Nam [9; tr. Năm 1950, các tác giả Bùi ðình [8; tr.43-46], Nguyễn Trắc Dĩ [5] ñưa ra nhận ñịnh: người Nùng vốn thuộc dòng Thái giống Bách Việt, có gốc từ vùng Quảng Tây (Trung Quốc) vào khoảng thế kỉ XVI di cư sang một số vùng của Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Hải Ninh - Móng Cái. Những nghiên cứu về sau hầu hết ñều thống nhất với nhận ñịnh là người Nùng từ Trung Quốc di cư ñến Việt Nam, chỉ khác nhau ở thời gian di cư.
Có tác giả cho rằng người Nùng di cư vào Việt Nam khoảng giữa thế kỉ XIX, gắn với phong trào Thái bình thiên quốc [21;21]; hoặc cho rằng họ ñến Việt Nam ñược khoảng 200 - 300 năm [35;115]. Kết quả nghiên cứu của các nhà sử học, khảo cổ học, dân tộc học ñã chỉ ra rằng khoảng từ thế kỷ VII ñến thế kỷ XI – XII, vào thời ðường - Tống, khu vực cư trú của bộ phận người Man – Lão sinh sống ở vùng biên giới ðông Bắc nước ta và vùng Lưỡng Quảng (Trung Quốc) ñã xuất hiện một loạt bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc có thế lực lớn mạnh, họ liên kết lại lại với nhau một mặt là bảo vệ nhau khi có tranh chấp, va chạm với các bộ lạc, liên minh khác, mặt khác là ñể chống lại sự áp bức của các vương triều ðường - Tống. Mỗi bộ lạc như vậy do một dòng họ có uy thế lớn cầm ñầu. Dòng họ Nùng chiếm cứ các châu An Bình, Vũ Lặc, Tư Lãng, Quảng Uyên tức là một dải ñất rộng lớn biên giới phía ñông Cao Bằng và Quảng Tây; cùng với họ Hoàng, Chu ở phía Tây Hữu Giang, chủ yếu ở các châu An ðức, Quy Lạc, Lê Thành, ðiền Châu (tức Tây và Tây Nam Quảng Tây, ðông Nam tỉnh Vân Nam).
Ba họ Nùng, Chu, Hoàng cũng sống xen kẽ với dòng họ Ninh chiếm cứ ở mé cực ðông vùng Lưỡng Quảng và Lạng Sơn [27;39]. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc khi ñề cập ñến nguồn gốc dân tộc Nùng cho rằng: Liêu tộc ñời ðường ñã chia ra nhiều nhóm nhỏ vào ñời Tống thành các tên: ðồng, Nùng, Ngật Lão. ðến ñời Minh – Nguyên – Thanh thì toàn bộ cư dân ở Quảng Tây gọi là ðồng; người ở vùng Quý Châu phần nhiều là Ngật Lão; …. Hứa Ngọc Tân - 11 - Luận văn Cao học Như vậy, tộc danh Nùng lúc ñầu bắt nguồn từ tên dòng họ ñông người, có thế lực với ñịa vực cư trú chủ yếu ở nam Trung Quốc, sau ñó họ thiên di dần về phía ñông, phía nam và phía Tây.
Lịch sử còn ghi nhận nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại sự áp bức của các triều ñại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, tiêu biểu nhất là hai cuộc khởi nghĩa của Nùng Dân Phú và Nùng Trí Cao. Sau thất bại của cuộc nổi dậy do Nùng Trí Cao ñứng ñầu, từ thế kỷ XIII họ mất quyền tự trị về chính trị và phụ thuộc vào phong kiến Trung Quốc [16;33], [38; tr. ðặc ñiểm hoạt ñộng kinh tế ðặc ñiểm cư trú của người Nùng thường là ở những thung lũng, khe suối, chân núi, những cánh ñồng giữa núi và trên những suờn ñồi thấp nên trong quá trình ñịnh cư, từ lâu người Nùng ñã có trình ñộ canh tác nông nghiệp cổ truyền khá phát triển. ðồng bào Nùng ñã lựa chọn cho mình những hình thức lao ñộng, sản xuất phù hợp với ñiều kiện ñịa lí tự nhiên.
Nền kinh tế của ñồng bào Nùng căn bản là dựa trên nền kinh tế nông nghiệp trồng trọt, cây lương thực chính là cây lúa, sau là cây ngô. Ngoài ra ñồng bào còn trồng các loài cây hoa màu khác như khoai lang, khoai sọ, củ từ, rau, ñậu, …. Tính ña dạng của các loại cây trồng không chỉ phụ thuộc vào ñiều kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc vào kinh nghiệm sản xuất của ñồng bào. Cơ cấu mùa vụ khá ña dạng, trên những chân ruộng nước (nà nặm), ñồng bào thường trồng hai vụ lúa mùa và ñông xuân, có những nơi do ñiều kiện thời tiết, không nước nên chỉ trồng ñược một vụ lúa, ở chân ruộng cạn (nà lẹng) ñồng bào trồng ngô, khoai lang, rau ñậu… Người Nùng là cư dân nắm vững và sử dụng thành thạo các bản tính nông lịch, ñồng thời họ cũng biết tuỳ vào tình hình thời tiết thông qua những biến ñổi của tự nhiên ñể có những ñiều chỉnh gieo cấy cho phù hợp.
ðể có năng suất cao, ñồng bào Nùng ñặc biệt quan tâm ñến việc bón lót, bón thúc và làm công tác thủy lợi. Bên cạnh việc làm ruộng nước, ñồng bào còn làm nương bãi. Nương ở chân ñồi hay ven rừng thường trồng ngô, sắn, ñậu, lạc, chè, vừng… ðồng bào còn có nhiều kinh nghiệm trong Hứa Ngọc Tân - 12 - Luận văn Cao học việc xen canh, gối vụ trên các loại ñất. Ở một số vùng, hoàn cảnh cư trú khiến người Nùng gặp khó khăn trong việc canh tác ruộng nước, do ñó nương và rẫy ñối với họ rất quan trọng.
Hiện nay, do hệ thống thủy lợi ngày càng hoàn chỉnh nên ruộng hai vụ tăng lên. Việc áp dụng phương pháp khoa học kỹ thuật ñang ñược ñẩy mạnh, nhiều trạm máy kéo xuất hiện, máy móc, công cụ sản xuất, vật tư nông nghiệp ñược ñồng bào sử dụng một cách phổ biến. Sản xuất nông nghiệp ñòi hỏi và cũng tạo ñiều kiện cho chăn nuôi phát triển. Trong chăn nuôi, cư dân Nùng ñều nuôi gia súc (trâu, bò, lợn, ngựa…), gia cầm (gà, vịt, chim); nuôi ong cũng khá phát triển, ở những nơi gần rừng nhiều nơi ñã thu ñược lượng mật tốt.
Các nghề thủ công tuy là nghề phụ nhưng cũng khá phát triển trong ñời sống cư dân Nùng. Phụ nữ Nùng rất khéo trong việc dệt vải phục vụ nhu cầu may mặc trong gia ñình, ngoài ra còn dệt thổ cẩm làm của hồi môn hay bán cho khách du lịch, xuất khẩu. Bên cạnh ñó, người Nùng còn có các nghề khác mang tính thời vụ như ñan lát, nghề mộc, rèn, làm gạch ngói, nung vôi, như nghề rèn của người Nùng An ở Phúc Sen rất nổi tiếng (Quảng Uyên, Cao Bằng). Nghề làm ngói phát triển rộng rãi trong nhóm Nùng An, Nùng Cháo ở Lạng Sơn, Cao Bằng, sản phẩm làm ra ñược tiêu thụ rộng trên thị trường.
Hiện nay, một số nghề ñã mai một dần (nghề rèn, ñúc, dệt), ñồng bào chủ yếu sử dụng các vật dụng mua sẵn chứ không tự sản xuất như trước ñây, ñặc biệt nghề dệt vải, nhuộm chàm vốn là nghề truyền thống của người Nùng nhưng nay không còn phổ biến nữa. Ngoài hoạt ñộng kinh tế truyền thống thì săn bắt, hái lượm cũng tồn tại ít nhiều ở các vùng và các nhóm ñịa phương. Sản phẩm hái lượm là rau (rau bồ khai, rau ngót rừng, lá mác mật…), củ, quả, nấm và mộc nhĩ. Sản phẩm săn bắn là thú rừng: sóc, dũi, chim… Hiện nay, diện tích rừng tự nhiên không còn nhiều, hoạt ñộng săn bắt cũng hạn chế.
So với các dân tộc thiểu số ở miền Bắc nước ta, có thể thấy rằng dân tộc Nùng là một trong những dân tộc có chất lượng sống cao hơn cả. Bên cạnh những kinh Hứa Ngọc Tân - 13 - Luận văn Cao học nghiệm, kiến thức sản xuất truyền thống, họ ñã và ñang từng bước tiếp cận với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và cơ chế thị trường. ðiều này có ý nghĩa hết sức quan trọng ñối với công cuộc phát triển bền vững kinh tế - xã hội của khu vực miền núi. ðặc ñiểm gia ñình – xã hội Quan hệ của các thành viên trong cộng ñồng làng bản của người Nùng ñược dựa trên sự tương thân tương ái, mọi người có thái ñộ tôn trọng, giúp ñỡ nhau trong mọi công việc.
Ở mỗi bản có một trưởng thôn lo các công việc hành chính. Ngoài ra, người dân tín nhiệm, kính trọng mời một người làm trưởng bản, là người có tầm ảnh hưởng rất lớn trong các công việc chung của bản. Do ñặc ñiểm cư trú khá tập trung, ở mỗi bản thường có vài ba họ trong cùng một dân tộc Nùng cư trú. Tinh thần gia tộc ñược thể hiện rất mạnh mẽ trong ñồng bào Nùng.
Người trưởng tộc ñược mọi người kính trọng và có ảnh hưởng rất lớn trong dòng họ. Gia ñình người Nùng là gia ñình nhỏ phụ hệ, người cha quyết ñịnh mọi việc, con trai ñược thừa hưởng gia tài. Trrong quan hệ dòng họ (cùng thế hệ như con cô, cậu, chú, bác….