Chương I. Những van đề lý luận về cạnh tranh và tố tụng cạnh tranh. Chương II. Nội dung cơ bản của pháp luật về tố tụng cạnh tranh ở Việt Nam — So sánh với pháp luật cạnh tranh của Nhat Bản Chương III.
Một số kiến nghị nhăm hoàn thiện pháp luật tố tụng cạnh tranh Việt Nam từ kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh của Nhật Bản. Nội dung của các Chương được trình bày lần lượt đưới đây. 8 CHUONG I NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE CANH TRANH VA TO TUNG CANH TRANH 1. Khai quat vé canh tranh 1.
Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh Dưới góc độ kinh tế học, cạnh tranh được hiểu là nỗ lực của những người bán hàng, cung ứng dịch vụ nhằm thu hút khách hàng về phía mình nhằm mục đích tăng doanh thu, thị phần, qua đó gia tăng lợi nhuận. Cạnh tranh được thực hiện thông qua việc tạo ra những khác biệt về giá cả, chất lượng, mẫu mã hàng hóa, dịch vụ giữa những người bán hàng, cung cấp dịch vụ mà khách hàng có thé phân biệt được. Cạnh tranh là sản phẩm tất yeu của nền kinh tế thi trường, nơi các hoạt động sản xuất, kinh doanh được điều tiết bởi quy luật cung — cầu, nơi quyền tự do kinh doanh của các chủ thể được tôn trọng triệt dé. Về ban chat, cạnh tranh có ý nghĩa và tác dụng tích cực, nhất là đối với những hành vi cạnh tranh lành mạnh và được kiểm soát bởi nhà nước.
Cạnh tranh là động lực thúc đây các doanh nghiệp, thương nhân không ngừng cải tiến, sáng tao trong quản lý, kinh doanh dé hang hóa, dich vụ của họ luôn giữ được ưu thế trên thị trường. Nhờ có cạnh tranh mà người tiêu dùng luôn được hưởng lợi từ các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, với giá cả phù hợp nhất. Ở góc độ vĩ mô, cạnh tranh đóng vai trò điều tiết quan hệ cung - cầu hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Khi cung lớn hơn cầu thì cạnh tranh sẽ làm cho giá ca hang hóa, dich vụ giảm xuống.
Khi đó, chỉ những doanh nghiệp lớn, có sức mạnh về công nghệ, phương thức quan lý mới có thé hạ được giá bán dé thé tồn 9 tại. Ngược lại, khi cầu lớn hon cung, giá cả hàng hóa, dich vu sẽ tăng lên, đồng nghĩa với việc thu được nhiều lợi nhuận. Khi đó sẽ thúc đây các doanh nghiệp sẽ đầu tư mở rộng và nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh. Cứ như vậy, cạnh tranh trở thành một cuộc chiến không ngừng mà ở đó có những doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ biết tạo dựng được lợi thế cạnh tranh, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp bị phá sản do thua lỗ, làm ăn không hiệu quả.
Nhờ vậy mà các nguồn lực xã hội luôn luôn được luân chuyên và sử dụng một cách triệt dé nhat [7, tr. Phan loai canh tranh Cạnh tranh là một hiện tượng phức tạp, có thể được nhận diện từ nhiều góc độ. Vì vậy, có nhiều tiêu chí khác nhau dé phân loại cạnh tranh. Dựa vào mục đích, tính chất của cạnh tranh, có thể chia thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh lành mạnh là những hành vi cạnh tranh được tiến hành dưới những hình thức phù hợp với pháp luật và các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh, do đó, không làm xâm hại đên lợi ích của các chủ thê khác. Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh được tiễn hành băng những thủ đoạn vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật và các chuân mực đạo đức trong kinh doanh, xâm hại đến lợi ích của các đối thủ cạnh tranh, lợi ích của người tiêu dùng và xã hội. Dựa vào tính chât và mức độ can thiệp của công quyên vào đời sông kinh tế, có thê chia thành: cạnh tranh tự đo và cạnh tranh có điều tiết. Cạnh tranh tự do là những hoạt động cạnh tranh diễn ra theo những quy luật khách quan cua thi trường mà không có sự can thiệp của bàn tay nhà nước.
Nói cách khác, chính thị trường với các quy luật tự nhiên, vốn có của nó là động lực dẫn dắt hành vi của các đối thủ cạnh tranh. 10 Cạnh tranh có điều tiết những hoạt động cạnh tranh diễn ra trên thị trường nhưng có sự điều tiết của nhà nước thông qua pháp luât và các công cụ kiểm soát cạnh tranh, nhăm đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường, lợi ích người tiêu dùng và của toàn xã hội. Dựa vào cơ câu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, một lĩnh vực kinh tế, có thể chia thành: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh trong không hoàn hảo. Cạnh tranh hoàn hảo là trạng thái cạnh tranh mà trong đó lợi ích của các chủ thé cạnh tranh được điều tiết hài hòa bởi các quy luật thị trường và do vậy không có sự xung đột nào dẫn đến hạn chế hoặc triệt tiêu cạnh tranh.
Cạnh tranh không hoàn hảo là trạng thái cạnh tranh, do vậy luôn xuất hiện những hành vi và thủ đoạn phản cạnh tranh. Biểu hiện cực đoan nhất của trạng thái cạnh tranh không hoàn hảo là tình trạng độc quyên. Nhu câu diéu tiết hoạt động cạnh tranh Như trên đã đề cập, cạnh tranh về bản chất có rất nhiều ý nghĩa tích cực. Nếu được kiểm soát và điều tiết hiệu quả, cạnh tranh giữ vai trò vô cùng quan trọng và là động lực to lớn thúc đây sự phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng, tiên bộ về xã hội.
Ngược lại, cạnh tranh tự do mà không có sự điều tiết sẽ dẫn đến tự phát, xung đột lợi ích và xuất hiện cách hành vi phản cạnh tranh, thâm chí triệt tiêu cạnh tranh. Xu hướng thường thấy của cạnh tranh tự do là sự xuất hiện của các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền. Những hiện tượng kê trên sẽ làm méo mó bản chât của cạnh tranh cũng như làm triệt tiêu vai trò của cạnh tranh với tư cách là động lực to lớn cho sự phát triên kinh tê - xã hội của các quôc gia. Khiên cho các nguôn lực của xã hội không được sử dụng, khai thác một cách hiệu quả nhất.
11 Dé phat huy những loi thé và han chế những mat trái của cạnh tranh, vai trò của điều tiết của nhà nước đối với hoạt động này là vô cùng quan trọng và cần thiết. Sự điều tiết của nhà nước sẽ góp phan giảm thiêu những hành vi cản trở hoặc triệt tiêu sự cạnh tranh, làm cho hoạt động cạnh tranh diễn ra lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với các chuân mực đạo đức kinh doanh, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên liên quan, góp phần thúc đây kinh tế xã hội phát triển. Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà cách thức và mức độ can thiệp của nhà nước vào hoạt động cạnh tranh có thé khác nhau. Xong về cơ bản, ở hầu hết các nước, nhà nước thường sử dụng những công cụ chủ yếu như: (i) Chính sách thuế; (ii) Kiểm soát giá cả; (ii) Điều chỉnh độc quyên; (iv) Quốc hữu hoá; (v) Ban hành và thực thi pháp luật về cạnh tranh, v.
dé điều tiết hoat động cạnh tranh. Trong những biện pháp kề trên, việc ban hành và thực thi có hiệu quả hệ thống pháp luật về cạnh tranh là biện pháp quan trọng hàng đầu. Thông qua pháp luật cạnh tranh, nhà nước thiết lập hành lang pháp lý cho các hoạt động cạnh tranh diễn ra một cách lành mạnh, đồng thời đặt ra những chế tài nghiêm khắc nhăm hạn chế những hành vi han chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi độc quyền trên thị trường. Khái quát về pháp luật cạnh tranh 1.
Khái niệm và đặc điểm của pháp luật cạnh tranh Pháp luật cạnh tranh là hệ thống các chế định, quy phạm do nhà nước ban hành dé điều chỉnh các hành vi cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh đưa ra các biện pháp ngăn ngừa và xử lý các hành vi cạnh tranh trái pháp luật, đạo đức xã hội và tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp. Thông qua đó góp phần bảo đảm sự cạnh tranh tự do và lành mạnh, tạo lập môi trường pháp lý an toàn cho các doanh nghiệp hoạt động. 12 Những chế định, quy phạm của luật cạnh tranh có thể tìm thấy trong rất nhiều đạo luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, song chủ yếu được quy định trong Luật cạnh tranh.
Pháp luật cạnh tranh có thiên hướng là luật tư, vì nó góp phần bảo đảo thực hiện hiện quyền tự do kinh doanh của các chủ thê được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp thực hiện dé những hành vi cạnh tranh trái pháp luật, đạo đức xã hội và tập quán kinh doanh thì trong nhiều trường hợp phải dùng “luật công” để điều chỉnh, như việc áp dụng các chế tài hành chính (phạt hành chính, cưỡng chế chia tách, giải thể doanh nghiệp.) hoặc các chế tài hình sự (phạt tiền hoặc phạt tù.) mà không cần phải có yếu tố gây thiệt hai cho một doanh nghiệp cụ thé và có yêu cầu của doanh nghiệp đó. Do vậy, pháp luật cạnh tranh vừa có những yếu tô của luật tư, nhưng vừa cũng có những yếu tố của luật công. Cau trúc của pháp luật cạnh tranh Theo thông lệ, pháp luật về cạnh tranh được chia làm hai bộ phận: pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh.
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh điều chỉnh các hành vi của các đối thủ cạnh tranh nhằm vào đối thủ cạnh tranh khác hiện hữu, các hành vi đó vi phạm pháp luật hoặc trrái với đạo đức, tập quán kinh doanh, đã va sẽ gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh dé tìm cho mình lợi thế hoặc mối lợi bất chính [18, tr. Nhìn chung, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh điều chỉnh các hành vi xâm hại đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh như: ngăn cản các đối thủ khác trong quá trình cạnh tranh, dém pha và bôi nhọ đối thủ, đánh cắp bí mật kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, sản xuất hoặc cho lưu hành hàng giả.và điều chỉnh các hành vi xâm phạm đến lợi ích của khách hàng như: can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng, khuyến mãi trong trường hợp bị pháp luật cạnh tranh cầm, quảng cáo sai lệch.