MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chính sách càng mở cửa cùng với nền kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển thúc đẩy cơ hội giao tiếp liên văn hoá của công dân trên toàn thế giới. Thực ra, sự khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ hay ảnh hƣởng của văn hoá gây ra nhiều trở ngại cho ngƣời học ngoại ngữ và thậm chí dẫn đến nhiều hiểu lầm trong giao tiếp. Nhận thấy đƣợc sự phát triển nhanh chóng của giáo dục nói chung và cộng đồng ngƣời học Tiếng Nhật ở Việt Nam nói riêng, chúng tôi muốn tìm một đề tài nghiên cứu vừa trau dồi đƣợc khả năng ngôn ngữ, khả năng giao tiếp cũng nhƣ muốn ngƣời học tiếp cận đƣợc văn hoá của ngƣời Nhật nhằm giúp ngƣời Việt học Tiếng Nhật cũng nhƣ ngƣời Nhật học Tiếng Việt tránh đƣợc tối đa những ma sát có thể xảy ra và hƣớng đến một cuộc giao tiếp trôi chảy.
Có thể nói “hành vi cám ơn” là một đề tài đã đƣợc nghiên cứu khá nhiều trong các ngôn ngữ khác nhau. Trong cuộc sống hàng ngày, không thể phủ nhận rằng giao tiếp bằng ngôn ngữ là chiến lƣợc giao tiếp cơ bản, quan trọng nhất của con ngƣời. Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, hành vi cám ơn là một hành vi nói năng thƣờng đƣợc sử dụng trong giao tiếp của cộng đồng ngƣời trên thế giới nói chung và của ngƣời Nhật, ngƣời Việt nói riêng. Hành vi cám ơn trong giao tiếp cũng là một trong những nét đặc trƣng văn hóa ứng xử riêng góp phần tạo nên bản sắc trong văn hóa ứng xử của dân tộc đó.
Đơn thuần lời cám ơn không chỉ là hành vi cám ơn mang ý nghĩa cám ơn mà hành vi cám ơn đó còn mang nhiều ý nghĩa khác nhau trong từng hoàn cảnh khác nhau. Và dựa vào hành vi cám ơn trong những ngữ cảnh khác nhau đó của ngƣời Nhật và ngƣời Việt chúng ta sẽ phần nào hiểu đƣợc sự nét tƣơng đồng và dị biệt trong cách thể hiện ở hai ngôn ngữ Tiếng Việt và Tiếng Nhật. Tuy nhiên có rất nhiều cách diễn tả hành vi cám ơn thông qua các chiến lƣợc nhƣ: Xin lỗi để cám ơn, Khen để cám ơn, Hứa hẹn để cám ơn,…. Ngay cả khi học Tiếng Nhật , ngƣời học cũng rất lúng túng khi sử dụng hành vi cám ơn.
Cám ơn cũng thể hiện nét văn hóa rất đặc trƣng của ngƣời Nhật. Nếu sử dụng một cách chính 1 xác thì không những làm tăng vốn hiểu biết mà còn tăng cƣờng mối quan hệ tốt hơn giữa ngƣời nói và ngƣời nghe. Chính từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Đối chiếu đặc điểm ngữ dụng của hành vi cám ơn trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật ” là để tài nghiên cứu lần này. Tình hình nghiên cứu và tính mới của đề tài: 2.1 Những công trình nghiên cứu trƣớc liên quan đến đề tài nghiên cứu Chúng tôi đã thừa kế từ những lý thuyết nghiên cứu về ngữ dụng học và các hành động giao tiếp trong ngôn ngữ đƣợc các nhà nghiên cứu xây dựng nhƣ lý thuyết hội thoại, lý thuyết lập luận, nguyên tắc lịch sự, lý thuyết hành vi ngôn ngữ, lý thuyết về logic … Các nhà nghiên cứu về ngữ dụng học trong và ngoài nƣớc nhƣ Searle (1969), Austin (1962), Đỗ Hữu Châu (1993, 2003), Nguyễn Đức Dân (1998), Hoàng Phê (2007)…đã đề cập đến nhiều khía cạnh của hành vi ngôn ngữ.
Các tác giả đều xem hành vi ngôn ngữ nhƣ những hành vi mang tính xã hội đƣợc phản ánh trong lý thuyết hành vi ngôn ngữ và các phƣơng châm hội thoại.2 Những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài Nghiên cứu hành vi cám ơn, có các công trình của các tác giả: Phạm Thị Thành – Nghi thức lời nói Tiếng Việt hiện đại qua các phát ngôn: chào, hỏi, cảm ơn, xin lỗi (Luận án Phó tiến sĩ trƣờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội); Nguyễn Thị Lƣơng – Các cám ơn gián tiếp của người Việt; Lê Thị Lan Hƣơng – Đặc điểm ngữ dụng của hành vi cám ơn trong Tiếng Việt (Trƣờng Đại học Khoa học, Đại học Huế). Ngoài ra Trong tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống năm 2012 đề tài Các chức năng ngữ dụng của lời cám ơn trong Tiếng Việt (Nguyễn Thị Mến, 2) cũng đã chỉ ra bốn chức năng ngữ dụng của hành vi cám ơn: biểu thị lòng biết ơn; chuyển lời thoại, ngắt lời thoại, đóng cuộc thoại; đồng ý lời mời/ đề nghị hay đi cùng với lời từ chối để tạo ra tính lịch sự; thể hiện thái độ không hài lòng, không thoải mái hay sự mỉa mai. Về các công trình nghiên cứu hành vi cám ơn trong Tiếng Nhật : Akahori và Yukiko (1995), thuộc trƣờng Đại học Osaka có nghiên cứu về cách sử dụng hành vi cám ơn của ngƣời Nhật, nhấn mạnh vào việc phân loại cách sử dụng hành vi cám ơn. Tên đề tài:「日本語母語話者の感謝表現: ストラテジ ーの種類とその使い分けを中心に」 2 Iio Makiko (2017) Toyo Gakuen University, nghiên cứu này biểu thị hành vi cám ơn thông qua hai động từ ngữ vi “Cám ơn” và “Xin lỗi”.
Tên đề tài: 「感謝を 表す表現:「ありがとう」と「すみません」」. Ở nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc tần suất sử dụng từ “cám ơn” và “xin lỗi” để cám ơn, lý giải tại sao xuất hiện sự khác nhau đó và phân tích đƣợc sự khác nhau, những lƣu ý khi sử dụng hai động từ ngữ vi “cám ơn” và “xin lỗi” khi cám ơn. Ichihara Asuka (2015), Ochanomizu University 「感謝表現研究の概観」, đã nêu lên đƣợc tổng quan về các công trình nghiên cứu về hành vi cám ơn bao gồm: các định nghĩa về hành vi cám ơn của nhiều nhà ngôn ngữ học, các công trình nghiên cứu về hành vi cám ơn. Trong nghiên cứu này, tác giả đã nêu lên các các biểu hiện của hành vi cám ơn biểu hiện trong ngôn ngữ.
Nghiên cứu chỉ ra rằng cách dùng hành vi cám ơn của ngƣời Nhật nhiều hơn so với các ngôn ngữ khác. Các nghiên cứu về đối chiếu chủ yếu là tiếng Anh. Điểm qua các công trình, chúng tôi nhận thấy rằng chƣa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệ thống, cụ thể hành vi cám ơn ở chiến lƣợc trực tiếp và gián tiếp trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật cũng nhƣ chƣa có nghiên cứu đối chiếu giữa Tiếng Việt và Tiếng Nhật thông qua phiếu câu hỏi diễn ngôn (Discourse Completion Task/ DCT) để tìm ra đƣợc điểm tƣơng đồng, dị biệt của hành vi cám ơn trong hai ngôn ngữ. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3.
Mục đích nghiên cứu Hiểu đƣợc những tƣơng đồng và dị biệt về đặc điểm ngữ dụng của hành vi cám ơn trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật nhằm đề xuất cách sử dụng liên quan đến dạy và học Tiếng Việt và Tiếng Nhật nhƣ một ngoại ngữ. Nhiệm vụ nghiên cứu Thống kê, phân loại và miêu tả đặc điểm ngữ dụng của hành vi cám ơn trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật. Chỉ ra những nét tƣơng đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ dụng của hành vi này trong hai ngôn ngữ. Bƣớc đầu đƣa ra một số đề xuất liên quan đến dạy và học Tiếng Việt và Tiếng Nhật nhƣ một ngoại ngữ.
Nội dung nghiên cứu 4.1 Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào đặc điểm ngữ dụng của hành vi cám ơn trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật cho hai đối tƣợng khảo sát (ĐTKS) ngƣời Việt chƣa từng tiếp xúc với ngƣời Nhật, Tiếng Nhật và ĐTKS ngƣời Nhật chƣa từng tiếp xúc với ngƣời Việt, Tiếng Việt. Mục đích chính là tìm ra các chiến lƣợc cám ơn hai nhóm đã sử dụng trong 16 tình huống đƣợc đƣa ra bao gồm những biểu thức nào, những chiến lƣợc nào, từ đó chỉ ra đƣợc những nét văn hoá ảnh hƣởng đến hành vi ngôn ngữ đó. Và hơn thế nữa là so sánh, đối chiếu đƣợc những đặc điểm ngữ dụng của hành vi cám ơn trong hai ngôn ngữ. Để thực hiện điều đó, nghiên cứu tập trung trả lời ba câu hỏi chính sau đây: 1.
Những biểu thức cám ơn mà ĐTKS sử dụng trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật là gì? (cám ơn trực tiếp) 2. Những chiến lƣợc cám ơn mà ĐTKS sử dụng trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật là gì? (cám ơn gián tiếp) 3. Có điểm gì tƣơng đồng và khác biệt giữa các biểu thức và chiến lƣợc đó? 4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng cả phƣơng pháp định tính và định lƣợng, dữ liệu đƣợc thu thập thông qua phiếu câu hỏi hoàn thành diễn ngôn (Discourse Completion Task/ DCT) và đƣợc mã hóa chi tiết và phân tích bằng phƣơng pháp thống kê và diễn giải. Sử dụng 16 tình huống cụ thể sử dụng hành vi cám ơn để khảo sát đối tƣợng khảo sát (ĐTKS) là ngƣời Việt và ngƣời Nhật.
Trọng tâm của phƣơng pháp đối chiếu là so sánh, đối chiếu dữ liệu nhằm tìm hiểu tƣơng đồng và khác biệt đặc điểm ngữ dụng của hành vi cám ơn trong hai ngôn ngữ Tiếng Việt và Tiếng Nhật .3 Đối tƣợng nghiên cứu Nghiên cứu này tiến hành khảo sát cách nói lời cám ơn của 200 ngƣời gồm 100 ĐTKS là ngƣời Nhật (điều tra bằng Tiếng Nhật ) đang sinh sống tại Huế, tại Việt Nam hoặc Nhật Bản chƣa tiếp xúc với Tiếng Việt và 100 ĐTKS ngƣời Việt (điều tra bằng Tiếng Việt) đang sinh sống tại Việt Nam chƣa tiếp xúc với Tiếng Nhật. 4 Tiêu chí này đặt ra nhằm đảm bảo cách nói lời cám ơn của những ĐTKS không bị ảnh hƣởng bởi ngôn ngữ cũng nhƣ văn hoá của nƣớc còn lại.4 Phiếu câu hỏi hoàn thành diễn ngôn DCT Phiếu câu hỏi hoàn thành diễn ngôn DCT mặc dù còn có hạn chế liên quan đến khả năng thu thập dữ liệu xác thực trong nghiên cứu văn hoá, mà theo một số học giả chỉ có thể đƣợc khắc phục thông qua công cụ ghi âm lời nói trong ngữ cảnh tự nhiên thông qua khảo sát nhân chủng học nhƣng là một trong những công cụ thu thập dữ liệu phổ biến nhất đƣợc dùng trong các nghiên cứu về hành động lời nói từ trƣớc đến nay. Một số nghiên cứu cụ thể đã sử dụng phiếu câu hỏi hoàn thành diễn ngôn DCT bao gồm nghiên cứu về Cách xin lỗi (Olshtain & Cohen 1993; Blum- Kulka et. Al; Linnel, Porter, Stone, &Chen, 1992; Bergman & Kasper, 1993), Thể hiện sự biết ơn (Eisenstein & Bodman, 1986, 1993), Cách từ chối (Beebe, Takahashi, & Uliss – Weltxet, 1990; Bardovi – Harlig & Hartford, 1991).