ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là một trong những bệnh lý phổ biến nhất trên toàn cầu. Gánh nặng về chi phí là đáng kể. VMDƯ gây giảm chất lượng cuộc sống, giảm chất lượng giấc ngủ làm mệt mỏi và dễ bực bội, ảnh hưởng xấu đến công việc và học tập 1. VMDƯ và hen thường đi kèm với nhau.
Hơn 80% bệnh nhân hen mắc VMDƯ trong khi từ 10 đến 40% bệnh nhân VMDƯ kèm hen. Burgess và cộng sự (cs) nhận thấy VMDƯ từ khi còn nhỏ tăng 7 lần nguy cơ mắc hen ở tuổi dậy thì và gấp 4 lần nguy cơ ở tuổi thanh niên 2. Các bệnh nhân đồng mắc VMDƯ và hen có tình trạng hen nặng hơn và điều trị y tế nhiều hơn so với bệnh nhân chỉ mắc hen 3. Vì vậy, cần thiết phải tầm soát hen trên những bệnh nhân được chẩn đoán VMDƯ.
Viện Tai mũi họng và Phẫu thuật Đầu cổ Hoa Kỳ đã đưa ra khuyến cáo cần đánh giá các bệnh lý đồng mắc trong đó có hen khi chẩn đoán bệnh nhân VMDƯ 4. Ngoài ra, trong hướng dẫn điều trị của Hội Dị ứng và Miễn dịch Lâm sàng Anh Quốc (British Society of Allergy and Clinical Immunology - BSACI) cũng đề cập đến việc đo lường chức năng phổi trên những bệnh nhân VMDƯ dai dẳng 5. Nhiều bằng chứng đã cho thấy (1) có mối liên hệ cao đáng kể giữa FeNO (Fraction of Exhaled Nitric Oxide – Phân suất NO thở ra) và viêm đường thở bạch cầu ái toan và (2) có mối liên hệ giữa viêm đường thở bạch cầu ái toan và sự đáp ứng với steroid 6. Nghiên cứu của Dương Quý Sỹ và cs thực hiện tại Lâm Đồng, Việt Nam về phân suất khí NO thở ra trên nhóm bệnh nhân VMDƯ kèm hen và không kèm hen đã cho thấy nồng độ FeNO trên bệnh nhân VMDƯ kèm hen cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bệnh nhân VMDƯ không kèm hen (35 ± 28 so với 12 ± 6 ppb, với P < 0,001), mức độ của FeNO cũng liên quan đáng kể với triệu chứng VMDƯ, ngưỡng dùng để chẩn đoán VMDƯ kèm hen của FeNO cao hơn ở những bệnh nhân VMDƯ không kèm hen 7.
Tác giả nhận thấy không có sự khác biệt về tỉ lệ dương tính với test lẩy da giữa 2 nhóm VMDƯ có và không có đồng mắc hen, nhưng không ghi nhận về tỉ lệ dương tính cụ thể với từng loại DN ở 2. Test lẩy da là xét nghiệm thông thường được lựa chọn để chẩn đoán VMDƯ, tuy nhiên hiện nay thuốc dùng để làm xét nghiệm này chưa có nhiều tại Việt Nam. Thêm vào đó, những bệnh nhân VMDƯ tại Việt Nam thường đã được sử dụng thuốc ức chế Histamin, làm cho kết quả khi thực hiện test lẩy da không chính xác 4.Vì vậy chúng tôi tiến hành đo IgE huyết thanh đặc hiệu bằng xét nghiệm máu trên dân số nghiên cứu. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào so sánh đặc điểm IgE huyết thanh đặc hiệu đặc hiệu và FeNO giữa nhóm bệnh nhân VMDƯ kèm hen và nhóm VMDƯ không kèm hen tại Việt Nam, vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu “So sánh đặc điểm FeNO giữa bệnh nhân viêm mũi dị ứng có và không có đồng mắc hen tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11/2021 đến tháng 7/2022”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát So sánh chỉ số FeNO và đặc điểm IgE miễn dịch đặc hiệu với DN không khí giữa bệnh nhân VMDƯ kèm hen và VMDƯ không kèm hen. Mục tiêu chuyên biệt - So sánh đặc điểm lâm sàng đối tượng tham gia nghiên cứu giữa nhóm VMDƯ và VMDƯ có đồng mắc hen - So sánh chỉ số FeNO giữa bệnh nhân VMDƯ có và không có đồng mắc hen. - So sánh đặc điểm IgE huyết thanh đặc hiệu với các loại DN hô hấp thường gặp giữa nhóm VMDƯ có và không có đồng mắc hen. - Khảo sát mối liên quan giữa FeNO và mẫn cảm trên bệnh nhân VMDƯ.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƢƠNG VỀ VIÊM MŨI DỊ ỨNG 1. Định nghĩa Viêm mũi thường được định nghĩa là tình trạng viêm của mũi với một hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau: chảy mũi trước hoặc sau, hắt hơi, nghẹt mũi, và ngứa mũi. Các triệu chứng trên phải kéo dài ít nhất hai ngày liên tiếp và hơn một giờ trong hầu hết các ngày 8,9.
Viêm mũi có nhiều nguyên nhân, bao gồm: nhiễm trùng (vi rút, vi khuẩn hoặc tác nhân nhiễm trùng khác), dị ứng, nghề nghiệp, do thuốc, do hóc môn. VMDƯ là dạng phổ biến nhất trong nhóm viêm mũi không do nhiễm trùng và liên quan đến đáp ứng miễn dịch qua trung gian IgE đối với các chất dị ứng. Theo định nghĩa của ARIA năm 2008, VMDƯ là một bệnh lý có triệu chứng của mũi gây ra sau khi tiếp xúc DN nhờ hiện tượng viêm qua trung gian immunoglobulin E (IgE) 9. Một số đặc điểm dịch tễ 1.
Thế giới VMDƯ là một trong những bệnh lý phổ biến nhất trên người trưởng thành 4. Ước tính ảnh hưởng 400 triệu người trên toàn thế giới, với tần suất cao được ghi nhận tại các nước nói tiếng Anh 10. Tại châu Âu, tần suất VMDƯ dao động từ 16,9 tới 28,5% 11, ảnh hưởng 10 – 15% trẻ em và 26% người lớn tại Anh 5. Ở các nước công nghiệp, VMDƯ ảnh hưởng 10 – 30% dân số 8.
Đây là bệnh lý mạn tính thường gặp nhất ở trẻ em tại Hoa Kỳ và đứng thứ 5 trong các bệnh lý mạn tính tại Hoa Kỳ nói chung. VMDƯ được ước tính ảnh hưởng khoảng một người trong mỗi 6 người Hoa Kỳ và tiêu tốn 2 đến 5 triệu đô cho chi phí chăm sóc sức khoẻ trực tiếp mỗi năm 4. Tần suất VMDƯ đang tăng lên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các vùng trước đây có tần suất thấp hoặc trung bình 9,12. Tại châu Á, VMDƯ ảnh hưởng một dân số lớn, thay đổi từ 27% ở Hàn Quốc cho đến 32% ở UAE 13.
5 nghiên cứu về khảo sát dị ứng ở vùng Châu Á – Thái Bình Dương (2011) thực hiện tại 8 nước (Úc, Trung Quốc, Hồng Công, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, Việt Nam) ghi nhận tần suất VMDƯ được chẩn đoán thay đổi từ 2,5% ở Philippine đến 13,2% ở Úc 14. Việt Nam Trong khảo sát về VMDƯ vùng Châu Á – Thái Bình dương, tần suất VMDƯ tại Việt Nam được ghi nhận là 12,3%. Trong số đó, tần suất đồng mắc với hen ở trẻ em và người lớn tương ứng là 6% và 22% 14. Tần suất của VMDƯ có sự khác biệt giữa những quốc gia, và thậm chí giữa những vùng của cùng một quốc gia.
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Lâm và cs (2011) ghi nhận tần suất VMDƯ ở Hoàn Kiếm (khu vực thành thị) (29,6%) cao hơn so với ở Ba Vì (khu vực nông thôn) (10%) (P < 0,001). Việc tần suất VMDƯ cao hơn ở vùng thành thị Hà Nội có thể được lý giải bởi nhiều lý do. Dân số tăng nhanh đi cùng với sự gia tăng của các loại phương tiện, ô nhiễm không khí có thể tăng nguy cơ dị ứng và từ đó thúc đẩy sự nhạy cảm và đưa đến phản ứng với các loại DN trong không khí. Thêm vào đó, chất lượng môi trường trong nhà không tốt với độ ẩm cao, nấm mốc, làm nặng thêm các ảnh hưởng lên sức khoẻ của ô nhiễm không khí.
Tần suất VMDƯ ghi nhận tại Nha Trang (2019) ghi nhận được ở trẻ 6 tuổi là 11,5% tương đồng với dữ liệu tại Hà Nội (1999) trên trẻ từ 5 đến 11 tuổi (10,7%) và Thành Phố Hồ Chí Minh (2001) trên trẻ 6-7 tuổi (10,1%) 15. Sinh bệnh học Cơ chế dị ứng dẫn tới viêm mũi đã được hiểu biết nhiều hơn so với các con đường không dị ứng. VMDƯ được trung gian bởi các kháng thể IgE và liên quan đến đáp ứng viêm của mũi (phản ứng loại I theo phân loại của Gell và Coombs). Sự sản sinh ra các IgE đặc hiệu với kháng nguyên (KN) cần phải có tiếp xúc ban đầu với DN trong hoàn cảnh cụ thể 8.
Các DN đường hít gắn lên niêm mạc mắt và đường hô hấp (mũi và phổi) trên các hạt nhỏ lơ lửng trong không khí. Các hạt này có kích thước từ 0,1 đến 100 micromet và thường bao gồm phấn hoa, bào tử nấm,. 6 phần tử của mạt nhà, các phần của côn trùng, và lông động vật. Các phân tử lớn có xu hướng bị mắc lại trong mũi, trong khi các hạt nhỏ hơn thì di chuyển xuống phổi 16.
DN được bắt giữ bởi tế bào trình diện KN trong niêm mạc hô hấp cho tế bào lympho T, làm lympho T biệt hóa thành Th2. Các tế bào Th2 sản sinh ra các hoá chất viêm trung gian như interleukin IL-4, IL-5, IL-13, và các chất khác, thúc đẩy biệt hoá tế bào lympho B thành tương bào, sản sinh ra kháng thể IgE đặc hiệu. Kháng thể IgE đặc hiệu gắn với các thụ thể IgE ái lực cao có trên bề mặt tế bào mast. Khi tiếp xúc lại với KN, KN sẽ tạo liên kết bắc cầu với hai phân tử IgE kế cận làm hoạt hóa tế bào mast.
Tế bào mast sau khi được biệt hóa sẽ phóng thích histamin, leukotriene, prostaglandin, và các hoá chất trung gian khác, gây nên phản ứng giai đoạn sớm, bao gồm chảy nước mũi, hắt hơi và ngứa mũi, và nghẹt mũi 8,16,17. Các tế bào mast có xu hướng tập hợp trong biểu mô của da, kết mạc, mũi và phổi, những nơi phản ứng dị ứng được quan sát. Leukotriene, được biết là chất phản ứng muộn của phản ứng dị ứng, trung gian một phần của phản ứng chậm thông qua việc tập trung các tế bào viêm, góp phần vào triệu chứng nghẹt mũi và chảy mũi 16. Hiện tại có bằng chứng rằng các DN đặc hiệu như Dermatophagoides pteronyssinus (mạt nhà) trực tiếp hoạt hoá các tế bào biểu mô và dẫn tới đáp ứng miễn dịch Th2 qua hoạt động của các enzym của chúng.
Phản ứng giai đoạn trễ bao gồm các tế bào mast và các tế bào viêm khác như tế bào T và bạch cầu ái toan, được kêu gọi vào niêm mạc, tiết ra các hoá chất trung gian bao gồm IL-4, IL-13, cysteinyl leukotriene, và neurotropin, gây nên tăng sự nhạy cảm và nghẹt mũi kéo dài 8.1: Sinh lý bệnh cổ điển của việc tạo thành IgE. Nguồn: James W Mims (2016) Epidermiology and Pathophysiology of Allergic Rhinitis 16.2: Dị nguyên gây ra sự phóng hạt của tế bào Mast. Nguồn: James W Mims (2016) Epidermiology and Pathophysiology of Allergic Rhinitis 16. Yếu tố nguy cơ Lý do vì sao những người này mắc VMDƯ còn những người khác thì không vẫn chưa được hiểu biết rõ.