Chương 1. Tổng quan tài liệu Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo 4 CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô trên thế giới Theo số liệu thống kê cho thấy ngành sản xuất ngô trên thế giới tăng liên tục trên tất cả các chỉ tiêu như: diện tích, năng suất, sản lượng cũng như nhu cầu tiêu thụ từ đầu thế kỷ 20 đến nay và đặc biệt là trong khoảng 40 năm trở lại đây (1975 - 2015). Năm 2005, năng suất ngô trung bình thế giới chỉ đạt khoảng 48,4 tạ/ha, đến năm 2015 năng suất đã đạt 57,3 tạ/ha trên diện tích 179.713 triệu ha với sản lượng đạt kỷ lục 1.278 triệu tấn theo [28].
Kết quả trên có được trước hết là nhờ sự phát triển vượt bậc của Khoa học công nghệ và việc ứng dụng những thành tựu mới trong sản xuất mà đặc biệt là trong lĩnh vực chọn tạo giống, đồng thời việc đẩy mạnh cải tiến các biện pháp kỹ thuật canh tác vào sản xuất rất được quan tâm. Với việc ứng dụng ưu thế lai và các giải pháp khoa học kỹ thuật cho sản xuất ngô đã góp phần nâng cao về năng suất đạt tới mức cao nhất của cây ngô so với các cây lương thực chủ yếu (ngô, lúa nước, lúa mì và mạch), đưa sản lượng ngô thế giới năm 2015 đạt (1.278 triệu tấn) tiếp tục vượt trên lúa mì (704,08 triệu tấn) và lúa nước (722.76 triệu tấn) theo [28]. Năm 2016 Trung Quốc nổi lên là nước đứng đầu thế giới về diện tích (36 triệu ha) và sản lượng ngô (216 triệu tấn). Tuy nhiên Mỹ là nước có diện tích ngô đưng thứ 2 của thế giới nhưng có năng suất và sản lượng ngô cao nhất thế giới trong năm 2016, năng suất (11,01 tấn/ha) cao hơn Trung Quốc 5,01 tấn/ha, sản lượng 386,748 triệu tấn cao hơn Trung Quốc khoảng 170 triệu tấn.
Braxin là nước đứng sau Trung Quốc, Mỹ về sản xuất ngô với diện tích 16,4 triệu/ha, năng suất 5,09 tấn/ha và sản lượng đạt 83,5 triệu tấn. Một số nƣớc sản xuất ngô trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Quốc gia (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Mỹ 35,141 11,01 386,748 Trung Quốc 36,000 6,00 216,000 Brazil 16,400 5,09 83,500 Ấn Độ 9,500 2,58 24,500 Mexico 7,100 3,45 24,500 Argentina 4,500 8,11 36,500 Thế giới 179,713 5,73 1,030,278 (Nguồn: FAOTASTAT, 2017) Sự phát triển gia tăng về năng suất cũng như sản lượng là kết quả của việc ứng dụng công nghệ, ứng dụng ưu thế lai vào sản xuất hạt giống ngô, cùng với việc sử dụng những thành tựu mới của nhiều ngành khoa học đối với nghiên cứu và sản xuất ngô như di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học đặc biệt là công nghệ chuyển gen. Năm 2011, sản lượng ngô trên thế giới là 883,46 triệu tấn sau 5 năm đến năm 2015 đã đạt tới 1.030,278 triệu tấn, tăng hơn 23%. Trong khi đó, vào năm 2003 Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới (IFPRI) dự báo nhu cầu ngô thế giới vào năm 2020 chỉ vào khoảng 852 triệu tấn [25].
Còn theo dự báo của Monsanto, vào năm 2030 nhu cầu ngô trên thế giới sẽ tăng 81% so với năm 2000 (từ 608 triệu tấn lên 1. Như vậy cho đến nay sự tăng trưởng đã vượt khá xa so với các dự báo. Sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới năm 2016 Sản lƣợng Tiêu thụ nội địa Xuất khẩu Chỉ tiêu (triệu tấn) (triệu tấn) (triệu tấn) Mỹ 386,8 314,6 56,5 Trung Quốc 216,0 226,0 0,2 Brazil 83,5 58,0 25,5 Argentina 36,5 10,5 25,0 Các nước khác 307,5 402,1 50,3 Tổng 1.011,2 157,4 (Nguồn: FAOTASTAT, 2017) Theo ước tính của FAO, đến năm 2020 diện tích trồng ngô được dự báo tăng nhanh thêm khoảng 10 triệu ha. Tổng sản lượng ngô tiêu thụ nội địa trên thế giới rất lớn, trung bình hàng năm từ 762,4 đến 838,6 triệu tấn, trong đó nước Mỹ chiếm 34,12% và các nước khác chiếm 65,88%.
Lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hàng năm khoảng 90 triệu tấn. Trong đó, Mỹ xuất khẩu 57,67% tổng sản lượng và các nước khác chiếm 42,33%. Tuy nhiên đến năm 2016 có thể thấy sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu đã vượt xa so với dự báo của FAO. Với mức tiêu thụ đạt 1.011,2 triệu tấn vượt 172,6 triệu tấn, xuất khẩu đạt 157,4 triệu tấn vượt 67,4 triệu tấn.
Mỹ vẫn là nước đứng đầu thế giới về tiêu thụ nội địa cững như xuất khẩu. Lượng ngô tiêu thụ thế giới năm 2016 đạt 1.168,6 triệu tấn, tăng 330 triệu tấn so với năm 2010 (838,6 triệu tấn). Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu sử dụng ngô làm nguyên liệu trong ngành ethanol và ngành chế biến thức ăn chăn nuôi cũng như chế biến thực phẩm tăng mạnh, đặc biệt là ngành chế biến năng lượng sinh học đang dần thay thế nguồn năng lượng hóa thạch.Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô ở Việt Nam Bảng 1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1990 – 2017 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (1.886 (sơ bộ) (Nguồn: Tổng cục thống kê 2017) 8 Ngô là cây trồng có từ lâu đời, theo nhà Bác học Lê Quý Đôn, cây ngô được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ 17.
Nhờ những đặc điểm quý, cây ngô sớm được người Việt Nam chấp nhận và mở rộng sản xuất. Trước năm 1981 hầu hết diện tích ngô được gieo trồng b ng các giống địa phương, kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp, bình quân (dưới 1,1 tấn/ha). Giai đoạn 1981 - 1990 diện tích trồng các giống thụ phấn tự do tăng dần và năng suất cũng tăng lên (1,49 tấn/ha năm 1985); tuy nhiên tại thời điểm đó năng suất ngô ở nước ta vẫn còn thấp hơn nhiều so với thế giới và diện mạo nghề trồng ngô nước ta chỉ thay đổi một cách sâu sắc và mang tính toàn diện kể từ khi ngô lai được nghiên cứu và được áp dụng thành công. Cây ngô lai bắt đầu được đưa vào sản xuất ở nước ta năm 1990 và đạt được những tiến bộ vượt bậc với tốc độ nhanh hiếm thấy từ năm 2009.
Diện tích trồng ngô lai tăng nhanh từ 0,1% năm 1990 lên trên 95% năm 2009. Tuy nhiên từ năm 2009 đến năm 2015 thì diện tích ngô Việt Nam tăng một cách ổn định trung bình khoảng 13. Năng suất, sản lượng cũng luôn giữ ở mức ổn định. Cho đến nay Việt Nam là một trong những nước sử dụng giống ngô lai một cách phổ biến và có năng suất tương đối cao so với khu vực Đông Nam Châu Á.
Tuy vậy, nhìn vào thực trạng hiện nay năng suất ngô Việt Nam năm 2015 (4,48 tấn/ha) vẫn còn thấp hơn năng suất trung bình thế giới (5,22 tấn/ha) là 1,25 tấn/ha. Sản lượng ngô sản xuất ra vẫn chưa đủ cung cấp cho ngành thực phẩm và ngành chăn nuôi trong nước nước, hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập hàng triệu tấn ngô hạt để cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thức ăn chăn nuôi. Theo số liệu của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, ước tính tại thời điểm năm 2012, nước ta phải nhập khoảng 1.473 tấn ngô (tăng hơn 350 nghìn tấn) so với năm 2009. Mới đây nhất, theo Báo cáo của Bộ Công thương cho biết, do sản xuất trong nước chưa đáp ứng được 9 nhu cầu, nên hàng năm, Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn thức ăn chăn nuôi từ các thị trường lớn trên thế giới.000 tấn, kim ngạch nhập khẩu là 1,671 tỷ USD, tăng 10,9% so với 2015 [44.
Từ năm 1980 đến nay, năng suất ngô nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình của thế giới. Năm 1979, chưa b ng 30% so với trung bình thế giới; năm 1990 b ng 42% (15,5/37 tạ/ha); năm 2000 b ng 65,5% (27,5/42 tạ/ha); năm 2005 b ng 75% (36/48 tạ/ha); năm 2008 đạt 79% (40,2/51,1 tạ/ha). Năng suất ngô Việt Nam vượt qua Thái Lan (nước có chương trình ngô lai rất sớm ở khu vực), vượt xa Philippin (26 tạ/ha), Ấn Độ (23 tạ/ha)… Trong năm 2011, so với các nước trong khu vực Đông Nam Châu Á, sản xuất ngô ở Việt Nam chỉ đứng sau Inđônêxia và Philippin về diện tích (diện tích 3,86 triệu ha và 2,5 triệu ha) nhưng về năng suất thì Việt Nam đạt 43,3 tạ/ha, chỉ đứng sau Inđônêxia (45,7 tạ/ha)[27]. Đến năm 2016 theo ước tính năng suất ngô Việt Nam đạt khoảng 4,6 tấn/ha tăng so với 2015 là 0,12 tấn/ha và dự báo năm 2017 năng suất có thể đạt 4,8 tấn/ha tăng so với 2016 là 0,2 tấn/ha [45].
Hiện nay, bộ giống ngô do các cơ quan nghiên cứu Việt Nam chọn tạo chiếm khoảng 60% thị phần ngô giống cả nước, với giá giống chỉ b ng khoảng 60% so với giống nhập từ nước ngoài. Vì vậy hàng năm đã tiết kiệm khoảng trên 10 triệu USD (chiếm khoảng 12/18 nghìn tấn giống m i năm). Nếu có đầu tư cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ cao đồng thời có cơ chế cạnh tranh lành mạnh thì giống sản xuất trong nước có thể chiếm tỷ lệ lớn hơn hiện nay.Tình hình sản xuất, tiêu thụ ngô ở Gia Lai Bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lƣợng ngô tỉnh Gia Lai (2012- 2017) Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (ha) (tạ/ha) (tấn) 2012 53.490 (Nguồn: Niên giám Thống kê Gia Lai 2018) Tại Gia Lai tình hình sản xuất ngô trong những năm qua cũng có những biến động.
Về diện tích sản xuất năm 2017 (47.374 ha) giảm so với 2012 (56.513 ha và giảm so với 2106 (52. Tuy nhiên về năng suất và sản lượng hàng năm luôn tăng. Năm 2017 năng suất trung bình toàn tỉnh đạt 4,46 tấn/ha sản lượng đạt được 211.490 tấn tăng so với 2012 (năng suất 3,907 tấn/ha, sản lượng 208.313tấn) là 0,553 tấn/ha và 3. So với 2016 (năng suất 41,90 tấn/ha) tăng là 0,27 tấn/ha.
Mặc dù diện tích giảm nhưng về năng suất và sản lượng luôn tăng, có được thành quả này là do việc đưa các giống ngô lai năng suất cao vào sản xuất theo chủ trương của tỉnh ngày càng rộng rãi, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến đã được đưa vào áp dụng trong sản xuất ngày càng được quan tâm [15] 11 Bảng 1. Tình hình sản xuất ngô ở huyện Chƣ Prông (2012 - 2017) Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (tấn) 2012 5.218 (Nguồn: Niên giám Thống kê Gia Lai 2018) Huyện Chư Prông là một huyện có diện tích trồng ngô tương đối lớn so với các huyện khác trong khu vực phía Tây Nam của tỉnh Gia Lai, chiếm 9,6% đến 10,8% diện tích ngô toàn tỉnh và sản lượng ngô thu hoạch chiếm 11,5% năm 2010 và 12% năm 2015 so với sản lượng ngô toàn tỉnh.