Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÂU CẦU KHIẾN 1. CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ CÂU CẦU KHIẾN 1. Quan điểm truyền thống Theo các nhà ngôn ngữ học truyền thống, câu chia theo mục đích nói bao gồm bốn kiểu câu: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến và câu cảm thán. Vì vậy chúng ta cần phải xuất phát từ hệ thống phân loại này để hiểu rõ hơn về đối tượng nghiên cứu này.
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp xuất phát từ quan điểm ngữ pháp truyền thống khi căn cứ vào mục đích nói, phân chia câu thành bốn loại, đó là: câu trần thuật (indicative sentence), câu nghi vấn (interogative sentence), câu mệnh lệnh (imperative sentence) và câu cảm thán (interjective sentence). Các tác giả của bộ sách Ngữ pháp tiếng Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô cho rằng: câu cầu khiến chỉ là một tiểu loại của câu trần thuật, khác các loại câu khác về tình thái, đồng thời căn cứ vào dấu hiệu hình thức, họ chia câu làm hai loại: câu hỏi và câu trần thuật. Tác giả Cao Xuân Hạo trong Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991) cũng theo quan điểm này. Quan điểm của những nhà ngữ pháp tiền dụng học đã chia câu thành ba loại: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến (mệnh lệnh).
Ở đây, việc phân loại 12 câu chủ yếu vẫn dựa vào các dấu hiệu hình thức. Ba tác giả Hoàng Trọng Phiến, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (1991) cho rằng: có 3 căn cứ phân loại câu nhưng phân loại theo mục đích nói thì có 4 kiểu, đó là câu tường thuật (câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu mệnh lệnh (câu cầu khiến) và câu cảm thán (câu cảm). Quirk trong Ngữ pháp tiếng Anh hiện đại và R. Asher trong công trình Từ điển bách khoa ngôn ngữ và ngôn ngữ học cho rằng, sai lầm của ngữ pháp truyền thống là lấy chức năng của câu để gọi tên kiểu câu đó.
Hai tác giả này đã tiến hành phân loại câu theo hình thức và chức năng. Quirk, câu phân chia theo hình thức sẽ có bốn loại: câu trình bày (declaratives), câu nghi vấn (introgatives), câu mệnh lệnh (imperatives), câu cảm thán (exclamatives); câu phân chia theo chức năng cũng có bốn loại: câu trần thuật (statement), câu hỏi (question), câu ra lệnh (command) và cảm thán (exclaration) [89, tr. Asher, câu phân chia theo hình thức gồm bốn loại: câu trình bày (declaratives), câu nghi vấn (introgatives), câu mệnh lệnh (imperatives); hệ thống thứ hai bao gồm: câu trần thuật (statement), câu hỏi (inquiry) và câu cầu khiến (directive) [ 86, tr. Các nhà Hán ngữ học nhìn chung xuất phát từ ba khía cạnh chức năng, kết cấu và ngữ khí, phân chia câu thành bốn loại: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán.
(Lư Phúc Ba, Thiệu Kính Mẫn, Hồ Dụ Thụ,…) Chẳng hạn, với câu nghi vấn “Anh có thể chuyển cho tôi ly nước được không?”, có thể thực hiện chức năng yêu cầu người nghe chuyển cốc nước cho mình. Câu trần thuật “Trong này nóng quá!”, có thể thực hiện chức năng mong muốn người nghe mở cửa. 13 Về mặt hình thức, câu cầu khiến ở tất cả ngôn ngữ đều gắn với thức mệnh lệnh của động từ. Ví dụ: Trong tiếng Hán, câu: 请把帽子摘下来! (Xin hãy bỏ mũ xuống!) Trong tiếng Anh, câu: You be careful ! (Hãy cẩn thận!) Trong ngữ pháp tiếng Hán, dấu hiệu hình thức đặc trưng của thức mệnh lệnh là động từ “请” (xin) thường được đặt ở đầu câu, ngoài ra, còn có thể dùng phó từ “别” (đừng, chớ),“不要” (không nên),…ở đầu câu hoặc trước vị ngữ.
Ví dụ: 别大声说话!(Đừng nói lớn!) 我们不要这样做! (Chúng ta không nên làm thế này!) Trong ngữ pháp tiếng Anh truyền thống, phương tiện hình thức đặc trưng nhất của thức mệnh lệnh là động từ “be” (nguyên dạng). Ngoài ra, có một số phương tiện khác đi kèm với “be” như “let”, “please”, “do (don’t)”,. Ví dụ: Be quiet, please! (Xin giữ im lặng!) Do drive slowly, please! (Xin hãy lái xe chậm một chút!) Trong tiếng Việt, dấu hiệu hình thức đặc trưng của thức mệnh lệnh cũng khá đa dạng, trong đó các từ như “hãy”, “đừng”, “chớ”, “cấm”,… thường có tần số sử dùng khá cao. Ví dụ: Hãy im lặng! Cấm hút thuốc! Các phương tiện hình thức thể hiện câu cầu khiến trong tiếng Hán khá phong phú, bao gồm các tiểu loại như: 命令(mệnh lệnh), 请求(yêu cầu, thỉnh 14 cầu), 劝止(cấm đoán), 请(mời mọc), 劝导 (khuyên bảo),催促 (thúc giục), 气 恼 (phẫn nộ),…; các phương tiện tình thái với các từ ngữ như: 别(đừng), 吧 (đi, nhé), 想 (muốn), 哪 (nào), 请 (xin), 不要(nên, không nên)… Trong tiếng Việt, các phương tiện hình thức được dùng để thể hiện câu cầu khiến cũng hết sức phong phú, bao gồm các phụ từ như: hãy, đừng, chớ,…; các từ tình thái như: đi, lên, thôi, nào, đã, nhé,…; các động từ tình thái như: nên, cần, phải,.và cả các động từ bản thân đã mang ý nghĩa cầu khiến như: cấm, mời, xin, yêu cầu,.
Vì vậy, sau này những quan điểm chức năng cũng nghiên cứu về phương tiện này trong hoạt động của câu đặt trong ngữ cảnh và hoàn cảnh giao tiếp chứ không tách câu ra khỏi ngữ cảnh. Theo các tác giả này, điều kiện quy định một phát ngôn có giá trị cầu khiến còn là ngữ cảnh chứ không phải hoàn toàn là ngữ điệu (Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm). Ví dụ: Trời sắp mưa rồi! ( Ý người nói có thể yêu cầu lấy quần áo phơi bên ngoài vào…) Ở đây, ngột ngạt quá! ( Ý người nói có thể yêu cầu mở cửa sổ hoặc ra ngoài đi dạo…) Về nội hàm của câu cầu khiến hiện giới nghiên cứu vẫn chưa đi đến cách hiểu thống nhất, các thuật ngữ như mệnh lệnh, cầu khiến,… vẫn được sử dụng lẫn lộn, hoàn toàn chưa được cố định hoặc có sự phân biệt rạch ròi. Nhìn chung, nội hàm của câu cầu khiến theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học truyền thống thường bao gồm một số nội dung sau: mệnh lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, đề nghị, cấm đoán, khuyên răn, dặn dò, chúc tụng, cầu mong, mời mọc, thách thức, cỗ vũ,.
Quan điểm chức năng Theo tác giả Cao Xuân Hạo, ngữ pháp chức năng là một lý thuyết đồng thời là một hệ phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ bao gồm: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời. Khi chúng ta nói năng cũng chính là chúng ta đang thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện của nó chính là ngôn ngữ. Quan điểm của ngành Ngữ dụng học cho rằng: hành vi ở lời “là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ có nghĩa là chúng gây một phản ứng tương ứng ở người nhận. Hành vi ở lời được thực hiện bởi một người nói một phát ngôn, là hành động được nhìn nhận ở phương diện trọng yếu của phát ngôn, trong một hệ thống ước lệ tương tác xã hội. Hiệu lực ở lời là bản chất ngữ vi, tác giả J. Searle từng nêu ra những trường hợp sau: khẳng định, miêu tả, suy đoán, khuyến cáo, nhận xét, ra lệnh, chú thích, cầu xin, phê phán, xin lỗi, khiển trách, sỉ nhục, tán đồng, chúc mừng, hứa hẹn, trách móc, đòi hỏi.
Ducrot, các hành vi ở lời có hiệu lực thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại. Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó. Tác động hầu như buộc vai nghe phải hồi đáp lại đối với một hành động ở lời trong câu nói ra được gọi là hiệu lực ở lời. Chính vì thế, các nhà ngữ pháp chức năng thấy được rằng, trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán, chính là các hành vi ngôn ngữ.
Bên cạnh đó, sự phát hiện của Austin đã đưa lại một cách nhìn mới mẻ về hệ thống câu chia theo mục đích nói. Một câu có hình thức là trần thuật cũng có thể có lực ở lời là 16 cầu khiến, một câu có hình thức là nghi vấn nhưng lực ở lời của nó có thể là khẳng định, phủ định hoặc đề nghị. Searle đã dựa trên bốn tiêu chí đích ở lời, hướng ghép lời – hiện thực, trạng thái tâm lý và nội dung mệnh đề đã chia hành vi ngôn ngữ thành năm loại: xác tín (assertives), điều khiển (directives), cam kết (commissives), biểu cảm (expressives), tuyên bố (declaratives). Vì vậy, các hành vi cầu khiến trong ngôn ngữ học hiện đại chính là nhóm các hành vi điều khiển theo hệ thống phân loại của J.
Cho nên để làm rõ khái niệm hành vi cầu khiến chúng ta phải xuất phát từ hệ thống các loại hành vi ở lời. Quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại về các hành vi ở lời thuộc nhóm cầu khiến vẫn chưa thống nhất. Nếu cho rằng, cầu khiến tức là những phát ngôn mà người nói nhằm hướng người nghe đến việc thực hiện một hành động nào đó, thì tất cả các hành vi ra lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, xin phép, cho phép, đề nghị, khuyên răn, mời mọc, chỉ dẫn, thách thức, cổ vũ, cảnh báo, thúc giục, dặn dò,… đều thuộc nhóm cầu khiến. Levinson (1983) lại cho rằng cầu khiến là những hành vi mà người nói thực hiện nhằm buộc người nghe làm một việc gì đó đem lại lợi ích cho mình.
Searle, hành vi cầu khiến gồm có: ra lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, đề nghị, cấm đoán, khuyên răn, dặn dò, chúc tụng, cầu mong, mời mọc, kêu gọi, thách thức, cổ vũ, cảnh báo, thúc dục. Cho nên, khi tiếp nhận hành vi cầu khiến, người nghe nhất định phải hồi đáp lại bằng một hành động tương ứng. Dựa trên hệ thống phân loại của J. Searle, tác giả Đào Thanh Lan cũng tiến hành phân loại hành vi cầu khiến ra các tiểu loại chi tiết thể hiện mức độ cầu khiến cao hay thấp khi căn cứ vào lực ngôn trung cầu khiến bao gồm: ra 17 lệnh, cấm, cho/cho phép, yêu cầu, đề nghị, dặn, khuyên, rủ, mời, nhờ, chúc, xin, xin phép, cầu, nài, van, lạy.
Tr41-42] Cho nên, có thể thấy rõ, hiệu lực gián tiếp của các hành vi ở lời phụ thuộc rất lớn vào hoàn cảnh giao tiếp. Ví dụ: Nóng quá! ( Ý người nói có thể yêu cầu mở cửa sổ hoặc mở quạt) Trời mưa rồi kìa!