CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CA TRÙ, HÁT CHÈO VÀ PANSORI 1.Cơ sở lý luận Chúng tôi tiếp cận nghiên cứu liên ngành (interdisciplinary research) và So sánh đối chiếu để xây dựng các phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu trong luận văn. - Nghiên cứu liên ngành (interdisciplinary research): Do là học viên cao học (HVCH) ngành Việt Nam học, một ngành không phải khoa học cơ bản, chưa có riêng phương pháp nghiên cứu mà cần kế thừa thành tựu nội dung, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội khác nên chúng tôi chủ yếu tiếp cận nghiên cứu liên ngành để khảo sát. Trong nghiên cứu liên ngành của luận văn này, chúng tôi xác định ngành chính là Việt Nam học, các ngành phụ bổ trợ theo nội dung luận văn là ngành Văn hóa học, Dân tộc học/ Nhân học, Nghệ thuật học, Âm nhạc học dân tộc (ethnomusicology), Văn học. Trên cơ sở lựa chọn các ngành phụ bổ trợ chúng tôi vận dụng những phương pháp nghiên cứu của ngành ấy để thực hiện luận văn, ví dụ áp dụng phương pháp quan sát và tham dự của ngành Dân tộc học/ Nhân học … - So sánh đối chiếu trong nghiên cứu nghệ thuật âm nhạc truyền thống: Do mục tiêu luận văn của chúng tôi nhằm vào việc so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của 2 hình thức nghệ thuật truyền thống là Ca trù và Pansori nên chúng tôi xem trọng việc đề ra tiêu chí so sánh, như: .- Thời gian ra đời: vào khoảng thế kỷ thứ XV ở Việt Nam và Hàn Quốc.
- Thể loại: kết hợp bởi thơ, hát thơ, hát nói, hát kể… - Diễn viên ít, bao gồm đào nương hát chính và một nam sử dụng nhạc cụ. - Nhạc cụ truyền thống dân tộc, ít nhạc cụ. 16 - Quy cách đào tạo nghệ sĩ: từ thế hệ trước truyền nghề cho thế hệ sau và diễn viên cần rèn luyện chuyên nghiệp. - Nghệ thuật Ca trù và Pansori đều được tổ chức UNESCO xếp hạng di sản thế giới.
Những điều kiện giống nhau về tinh thần sẽ làm sản sinh ra những tập quán giống nhau, không phụ thuộc vào việc các dân tộc có chung một nguồn gốc hay có sự vay mượn tư tưởng và lối sống của nhau hay không. Nhiều nhà khoa học đã đặt ra vấn đề về “những giới hạn của phương pháp nghiên cứu so sánh trong dân tộc học”. Khi thuyết tương đối văn hóa (cultural relativism) trở thành lí thuyết thống trị trong dân tộc học và nhân học văn hóa thì các nhà khoa học có khuynh hướng rời bỏ phương pháp nghiên cứu so sánh và tập trung vào việc nghiên cứu lịch sử - cụ thể và sâu sắc từng nền văn hóa riêng biệt vì họ cho rằng mỗi nền văn hóa riêng biệt không thể so sánh được (a noncomparable monad). Gần đây các nhà khoa học ngày càng có ý thức tìm đến nhiều dạng khác nhau của phương pháp nghiên cứu so sánh để đào sâu và phát triển những giả thiết khoa học đã từng được sơ bộ nêu ra trong nghiên cứu văn hóa dân tộc nói chung.
Khái niệm: - Diễn xướng dân gian: Diễn xướng dân gian là một loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc trong kho tàng văn hóa phi vật thể của người Việt. Theo Nguyễn Hữu Thụ, nghệ thuật cao nhất của diễn xướng là hát. Diễn xướng dân gian là loại hình nghệ thuật truyền thống, diễn xướng vừa phục vụ đắc lực cho đời sống tinh thần, đồng thời thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc. Xuất phát từ quan niệm cộng sinh, cộng cảm, diễn xướng là sự liên kết, gắn bó tất cả mọi người tham gia, hình thành nên cộng đồng bền vững với ý thức cùng chung sống.
Bằng nhiều phương thức như nói, kể, ví, vè, 2 Chu Xuân Diên, Phương pháp so sánh đối chiếu trong Văn hóa dân gian, Nguồn: http://www.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/ve-phuong- phap-so-sanh-trong-nghien-cuu-van-hoa-dan-gian) 17 hát, hò, trò, múa, ca, vũ, lễ nhạc…, diễn xướng đã thật sự đến với tâm hồn của người dân và được bảo lưu, truyền nối từ đời này sang đời khác một cách bền bỉ.3 -Âm nhạc học dân tộc học (Ethnomusicology) Chúng tôi muốn xem xét Ca trù, Hát chèo, Pansori một phần dưới góc độ Âm nhạc học dân tộc (ethnomusicology) nên xin làm rõ thêm khái niệm này. Bà Claudie Marceldubois, nhà Dân tộc học quá cố, người đi đầu của bộ môn âm nhạc học dân tộc ở Pháp, cho rằng ethnomusicology là bộ môn nghiên cứu theo truyền thống truyền khẩu tất cả những hiện tượng âm thanh liên quan đến đời sống xã hội và văn hóa và kỹ thuật của các nhóm dân tộc khác nhau. GS Gilbert Rouget, chuyên gia về nhạc Phi châu và tác giả cuốn sách Musique et Transe (Âm nhạc và Lên đồng), cho rằng “ethnomusicology là nhạc học của những nền văn minh được cấu tạo bằng lĩnh vực truyền thống của dân tộc học". Đối với người Việt Nam, và đối với ngành giảng dạy âm nhạc ở Việt Nam, môn âm nhạc học (musicology) là bộ môn nghiên cứu có tính cách đối chiếu lịch sử âm nhạc Việt Nam qua các thể loại (nhạc triều đình, tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân nhạc, tân nhạc.), nhạc khí, nhạc ngữ, điệu thức, tiết tấu.
Người nghiên cứu âm nhạc học dân tộc tiếp xúc trực tiếp với âm nhạc của đất nước mình nghiên cứu bằng cách sống tại chỗ trong một thời gian ngắn hay dài tùy theo chủ đích nghiên cứu và áp dụng những khái niệm từ nhân học và ngôn ngữ học phát triển ra. Theo Trần Quang Hải, ngày nào càng có nhiều người Việt ưa thích nhạc cổ truyền của Việt Nam, chịu khó đi nghe các buổi hòa nhạc cổ truyền của Việt Nam, tìm kiếm sách, báo để đọc và khuyến khích con cháu của mình trở về nguồn, bằng cách giáo dục chúng qua ngôn ngữ, âm nhạc, văn hóa thì ngày đó ông mới có hy vọng về sự sống mạnh mẽ của truyền thống âm nhạc Việt Nam.4 3 Thái Vũ, Văn hóa làng Việt Nam- diễn xướng dân gian, NXB Văn hóa Thông tin, 2016 4 Nguồn: http://e-cadao.com/tieuluan/nghethuat/dantocnhachoc.htm 18 Khi nghiên cứu các thể loại nghệ thuật truyền thống Ca trù, Hát chèo, Pansori ở Việt Nam và Hàn Quốc chúng tôi nhận thấy các thể loại này phần nào gần gũi với âm nhạc học dân tộc , do cư dân của cả hai quốc gia sáng tạo lâu đời và ý thức việc bảo lưu truyền thống ca vũ nhạc của cả ba thể loại qua ca nhạc dân gian. - Ca trù: Ca trù là một thể loại nghệ thuật truyền thống của người Việt, phối hợp giữa thi ca và âm nhạc. Hát Ca trù có đào và kép nhưng ca nhi, người hát là phụ nữ quan trọng nhất nên gọi là Hát ả đào.
Ca trù ra đời, hình thành từ khoảng thế kỷ XV tại đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam, phát triển đến đầu thế kỷ XX, sau đó suy tàn dần do nhiều nguyên nhân về xã hội và hiện nay. Ca trù đang được phục hồi. Ca trù Việt Nam cũng là thể loại nhạc quý tộc. Nó có nguồn gốc từ trong cung đình (Hát cửa quyền), sau đó được dùng trong các nghi thức tế lễ ở đình, chùa (Hát cửa đình), rồi phổ biến đến các dinh, ty (hay còn gọi là tơ) của quan lại (Hát nhà tơ), sau đó được phổ biến hơn, hát tại các nhà quý tộc sang trọng, hoặc tại các nhà hát ả đào chuyên nghiệp.
Chặng đường phổ biến của ca trù tuy đi từ cực kỳ sang trọng đến đơn giản hơn, nhưng không bao giờ đơn giản đến mức trở thành thể loại bình dân cho người thuộc tầng lớp dưới trong xã hội cả. Xét về bản chất, nó cũng là thể loại nhạc quý tộc, mang tính chất phong lưu, nhã nhặn5. - Hát nói/Hát kể/Hát thơ: Ba hình thức này trong Pansori tuy thể hiện dưới góc độ nói, kể và hát nhưng gần như chỉ là một, bắt nguồn từ những bài thơ cổ (Sijo). Người ta thường gọi Pansori 5 Vũ Thị Thanh Tâm, Sijo Korea và hát nói Việt Nam- từ điểm nhìn so sánh, Khoa Văn học & Ngôn ngữ, Trường Khoa học XH&NV TP.
Hồ Chí Minh.com/site/vanhocviet2013/tu-lieu-van- hoc-1/iv-nh-vn-tp-h-ch-minh/v-th-thanh-tm-sijo-korea-v-ht-ni-vit-nam--t-im-nhn-so-snh) 19 là Hát kể Pasori (Wikipedia). Nếu Sijo là thơ cổ, thì Sijochang là thơ phổ nhạc, là Hát nói của Hàn Quốc mà trong Pansori đều phải vận dụng. Sijochang tại Hàn Quốc là một nghệ thuật kết hợp âm nhạc và thơ truyền thống. - Hát nói ở Việt Nam Hát nói ở Việt Nam được sinh ra từ nhu cầu của bộ môn nghệ thuật Ca trù.
Nó đã có từ thời Lê (thế kỷ XV), nhưng phải đến đầu thế kỷ thứ XIX mới có những tác phẩm đặc sắc, lưu truyền đến nay. Đây cũng là thời kỳ Nho giáo chiếm địa vị độc tôn ở Việt Nam, và văn chương chữ Hán cũng đang phát triển mạnh mẽ. Hát nói được sáng tác và ghi chép bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Ở Việt Nam có ba giả thuyết về nguồn gốc thể Hát nói: Thứ nhất, hát nói là biến thể của hai thể song thất và lục bát; thứ hai, hát nói là biến thể của thể song thất lục bát và nói lối trong tuồng; và thứ ba, hát nói bắt nguồn từ thể nói sử trong chèo.
Theo cả ba giả thuyết này, thì hát nói đều có nguồn gốc từ các thể loại văn chương và sân khấu truyền thống của Việt Nam - Hát nói (Sijo) ở Hàn Quốc Về nguồn gốc thơ sijo, đến nay có ba giả thuyết chính: thơ sijo có nguồn gốc từ thơ tứ tuyệt Đường luật Trung Hoa, từ thể thơ Hyangga, hay từ dân ca cổ của Korea. Trong các giả thuyết đó, giả thuyết sijo khởi nguồn từ thơ Đường là ít tính thuyết phục nhất. Hai giả thuyết còn lại đều gặp nhau ở chỗ theo giả thuyết nào đi nữa, thì Sijo cũng là sự kế thừa và phát triển nét đẹp của các thể “ca” thuần Hàn. Nếu tính từ những triều đại cuối cùng của đế chế Koryo, thì đến nay, 6 Vũ Thị Thanh Tâm, Sijo Korea và hát nói Việt Nam- từ điểm nhìn so sánh, Khoa Văn học & Ngôn ngữ, Trường Khoa học XH&NV TP.
Hồ Chí Minh.com/site/vanhocviet2013/tu-lieu-van- hoc-1/iv-nh-vn-tp-h-ch-minh/v-th-thanh-tm-sijo-korea-v-ht-ni-vit-nam--t-im-nhn-so-snh) 20 lịch sử của thể thơ sijo cũng đã tồn tại trên 700 năm. Ban đầu với người Triều Tiên, sijo là một bài hát có giai điệu, là sự dung hợp giữa những khúc ca cũ của đế quốc Shilla và những bài hát văn xuôi của vương quốc Koryo. Vào cuối đời Koryo và đặc biệt là khoảng giữa thời Choson, sijo phát triển mạnh mẽ đạt đến cực thịnh. Nó không còn bó hẹp trong cung đình mà đến với quần chúng và được lưu hành chủ yếu thông qua phương thức truyền miệng.