Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây sắn và keo giậu 1. Giới thiệu về cây sắn 1. Tên gọi Cây sắn thuộc giới Plantae, bộ Malpighiales, họ Euphorbiaceae, phân họ Crtonoideae, tông Manihoteae, chi Manihot, loài M.
Cây sắn có tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, sắn còn có một số tên khác là cassava, manioc, tapioca, maniva cassava, … Ở Việt Nam cây sắn còn được gọi là cây khoai mì, cây củ mì, sắn tầu, … 1. Nguồn gốc, phân bố Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (theo Reiche Dolmatoff 1957, 1965; Rouse và Crusent, 1963), {Trần Ngọc Ngoạn (1990) [23]}. Cây sắn được bắt nguồn từ 4 trung tâm lớn, đó là: (1) Guatemala, (2) Mexico, (3) Đông Brazil và Bolivia, (4) Tây Bắc Argentina và dọc theo bờ biển vùng Sarana của miền Tây Bắc Nam Mỹ (Jaladudin (1997) [70]. Ngày nay, sắn được trồng hầu hết ở các nước có vĩ độ từ 300N đến 300S và tập trung chủ yếu ở 106 nước thuộc Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á Thái Bình Dương (Silvestre và Arraudeau (1990) [26], Trần Ngọc Ngoạn (2007) [24].
Ở Việt Nam, cây sắn là một cây hoa màu truyền thống và quan trọng của nhân dân ta, nhất là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Năng suất chất xanh Theo Wanapat (1997) [102] thì trồng sắn lấy lá với mật độ dầy và thu hoạch lần đầu sau khi trồng 3 tháng, còn thu các lần tiếp theo là 2 tháng/lần thì sản lượng vật chất khô có thể đạt 12,6 tấn/ha/năm. n 4 Theo Wanapat (2002) [103] khi thử nghiệm trồng 16 dòng sắn với mật độ 27.788 cây/ha để thu cắt lấy lá đã thấy: Sản lượng VCK qua 3 lứa cắt từ 4,043 đến 7,768 tấn/ha/năm, còn khi trồng 25 dòng sắn khác với mật độ 111.111 cây/ha thì cho sản lượng VCK dao động từ 2,651 đến 8,239 tấn/ha/năm. Theo Atchara và cs (2002) [49] tổng hợp các kết quả nghiên cứu về khoảng cách cắt từ năm 1977 đến năm 1979 về dòng sắn Rayong 1 có thể trồng sắn với nhiều mật độ khác nhau.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy sản lượng đạt từ 6,94 đến 8,85 tấn lá tươi/ha/năm và không có sự sai khác thống kê có ý nghĩa giữa sản lượng lá tươi được trồng với mật độ khác nhau. Nguyễn Hữu Hỷ (2002) [14] khi nghiên cứu khoảng cách trồng đối với các giống KM 94; KM 140-2; KM 98-5 và SM 937-26 với các mật độ 12.345 cây/ha và ở 24.690 cây/ha; thu lá 3 lần vào các thời điểm 5 tháng, 7 tháng sau trồng và lần cuối vào lúc thu hoạch củ. Kết quả cho thấy giống KM 98-5 cho sản lượng VCK của lá cao nhất ở mật độ 24.690 cây/ha, sau đó đến giống KM 94 nhưng sản lượng củ thì ngược lại. Sản lượng củ và lá của các khoảng cách khác đều thấp hơn, trừ sắn KM 140-2 có sản lượng củ cao nhất trong các giống sắn.
Theo Wargiono (2002) [104] thì năng suất lá phụ thuộc vào số lần thu hoạch lá. Theo ông, trồng sắn với mật độ 8.000 cây/ha thu hoạch lá hàng tuần từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 7 (4 tầng lá/lần thu) sẽ cho năng suất cao nhất. Theo Li Kaimian và cs (2002) [76] thì sản lượng VCK của lá sắn đạt cao nhất ở mật độ trồng 15.625 cây/ha là 3,04 tấn/ha. Theo Cadavid (2002) [52] thì trồng sắn CMC 92 lấy lá tại Colombia có mật độ từ 20.000 cây/ha thì sản lượng chất khô thu được khoảng trên dưới 24 tấn/ha/năm.
Cũng theo ông đối với giống CM 4843-1 với mật độ 11.200 cây/ha ở vùng đất xám pha cát có thể thu 24,45 tấn VCK/ha/năm (91,4 n 5 tấn tươi): Giống sắn CM 2758 với mật độ 11.200 cây/ha trong 2 năm có thể thu 83,01 tấn chất tươi/ha; Giống CM 523-7 86,81 tấn chất tươi/ha; giống Mcol 2737 102,9 tấn/ha, trồng dòng HMC 1 với mật độ 31.000 cây/ha với khoảng cách cắt là 3 tháng/lần, sản lượng lá thu được trên dưới 80 tấn/ha. Cần lưu ý là sản lượng chất tươi nói trên bao gồm cả thân, cành, lá sắn. Ở các thông báo khác sản lượng lá sắn thấp hơn nhiều so với thông báo nêu trên là vì sản lượng này chỉ có riêng lá, không bao gồm thân, cành, ngọn và cuống lá sắn. Thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng của cây sắn Trong lá sắn có các chất: protein, lipit, xơ, khoáng và một số loại vitamin và sắc tố.
* Protein Theo Từ Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp (1998) [11] thì protein trong lá của các giống sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06 đến 29,80% trong vật chất khô. Lá của các giống sắn trong nước có hàm lượng protein cao là Xanh Vĩnh Phú, sắn Dù, Chuối trắng, KM 60, Chuối đỏ, 205. Theo Liu và Zhuang (2000) [79] thì bột lá sắn có hàm lượng protein là 27,50%, còn chế biến sắn cả cuống thì hàm lượng protein giảm xuống còn 20,30%. Tuy nhiên, giống sắn và thời điểm thu lá khác nhau thì hàm lượng protein là khác nhau.
Tác giả cũng cho biết protein trong lá sắn cao hơn hẳn các loại cây thức ăn khác (hàm lượng protein trong VCK của cỏ hòa thảo là 12,60%; ngô 11,90%) nhưng thấp hơn so với đỗ tương (45,70%). Adrian và Peyrot (1970) {Trích Job A.T (1975) [71]} đã so sánh thành phần axit amin trong lá sắn với thành phần axit amin trong trứng gà, thấy: Hàm lượng axit amin, đặc biệt là các axit amin không thay thế trong lá sắn tương đối đầy đủ và cân đối. Tuy nhiên, hàm lượng methionin trong protein của lá sắn thấp (1,2 g%), chỉ bằng 67% hàm lượng methionin trong protein n 6 của trứng gà (3,65 g%). Do đó không nên sử dụng bột lá sắn khi khẩu phần nghèo methionin.
Theo công bố của Hoài Vũ (1980) [43] thì về mặt chất lượng, trong protein của lá sắn có khá nhiều và đầy đủ các axit amin cần thiết. So với các loại rau tươi khác thì chất lượng protein của lá sắn hơn hẳn. Ví dụ: Hàm lượng lysin, methionin, triptophan của lá sắn tươi là 0,3; 0,4; 0,11 (g/100g). Trong khi đó, rau muống là 0,14; 0,07; 0,04.
Rau ngót là 0,16; 0,13; 0,05. Rau cải là 0,07; 0,03; 0,02 (g/100g). Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [30], Chavez và cs (2000) [54] thì hàm lượng axit amin trong lá cao hơn trong củ sắn và cân đối so với trứng gà. Tuy nhiên, hàm lượng methionin và histidin trong lá cũng thấp, tương ứng là 1,99 và 1,14%.
Hàm lượng lysin trong protein của lá sắn tương đối cao (5,68%) đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của gia súc gia cầm. * Năng lượng trong bột lá sắn Theo Bùi Văn Chính và Lê Viết Ly (2001) [3] thì trong ngọn lá sắn tỷ lệ VCK chiếm 25,5%, năng lượng trao đổi là 2549 Kcal/kg VCK, còn theo tài liệu của Viện chăn nuôi (2001) [41] thì bột lá sắn có 89,60% VCK, 1.966 kcal/kg, tương ứng với 2.194 kcal/kg VCK. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nghi và cs (1984) [21]; Nguyễn Văn Thưởng và Sumulin (1992) [28]; Từ Quang Hiển (1982) [8], thì năng lượng trao đổi trong lá sắn tính theo 1kg vật chất khô khoảng 2. Từ lâu, lá sắn đã được coi là một nguồn thức ăn rau xanh cho người và gia súc.
* Các chất khoáng Hàm lượng khoáng đa lượng và vi lượng của lá sắn năng suất cao hơn với củ. Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [30] thì hàm lượng khoáng tổng số của các loại sắn Xanh Vĩnh Phú, Xanh Hà Bắc, Chuối vỏ đỏ, Chuối vỏ trắng, KM 60, Sắn dù, 205 thường từ 6,60 đến 7,80% trong VCK. Còn các giống sắn H34, n 7 202 hàm lượng khoáng tổng số lần lượt là 5,62% và 5,80%. Trong đó, hàm lượng Ca dao động từ 0,74 - 1,13%; P từ 0,25 đến 0,38%; K từ 1,52 đến 1,71%.
Trong lá sắn hàm lượng Fe và Mn rất cao, tương ứng là 344,0 mg và 655,2 mg trong 1 kg vật chất khô (Nguyễn Khắc Khôi (1982) [16], Adewusi và Bradbury (1993) [47]. * Vitamin Hàm lượng vitamin trong lá sắn cũng cao. Theo Hoài Vũ (1980) [43] thì hàm lượng caroten trong lá sắn tươi là 3,00 mg/100g, vitamin B1 là 0,25 mg/100g, B2 là 0,66 mg/100g, PP là 0,66 mg/100g. Đặc biệt, vitamin C trong lá sắn khá cao (295 mg/100g).
Theo Từ Quang Hiển (1983) [9] thì trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7 mg caroten/100g VCK. Độc tố HCN trong sắn, cơ chế gây độc và phương pháp khử độc * Độc tố HCN trong sắn, cơ chế gây độc Lượng độc tố trong sắn rất khác nhau tùy thuộc vào giống sắn. Trong cây sắn, sự phân bố HCN trong các bộ phận khác nhau là rất khác nhau. Theo Phạm Sỹ Tiệp (1999) [30], thì phân bố HCN được chia ra như sau: Các bộ phận trên mặt đất có 29,3%; trong đó chủ yếu độc tố nằm ở thân là 27,2% còn lại ở lá chỉ có 2,1%.
Lượng độc tố ở các bộ phận dưới mặt đất chiếm 70,7% tổng lượng độc tố trong cây. Trong đó gốc già dưới đất có 8,9% và rễ củ chiếm 61,8%, tập trung chủ yếu ở vỏ và hai đầu củ sắn. Như vậy, hàm lượng HCN ở lá sắn rất ít mà chủ yếu ở củ sắn. Tuy nhiên khi sử dụng lá sắn không được qua sử lý tốt thì ở động vật vẫn bị ngộ độc lá sắn.
Chính vì vậy phải xử lý lượng độc tố HCN trong lá sắn trước khi cho gia súc, gia cầm sử dụng để đạt hiệu quả cao. Trong cùng một giống sắn thì ở phần củ sắn, lượng HCN cao nhất ở phần vỏ thịt, sau đó là 2 đầu củ và lõi sắn; ở lá thì HCN ở lá non nhiều hơn lá già; ở thân thì thân già nhiều hơn thân non. Ở mỗi phần của cây sắn hàm lượng n 8 HCN có tỷ lệ rất khác nhau, HCN được tập trung chủ yếu ở phần củ sắn. Khi gia súc, gia cầm ăn nhiều thức ăn có chứa HCN, gốc CN - khi vào cơ thể sẽ liên kết chặt chẽ với hemoglobin, ức chế quá trình vận chuyển oxy làm cho cơ thể thiếu oxy dẫn đến gia súc ngạt thở, niêm mạc, da tím bầm và chết nhanh.
Việc bắt giữ CN - của Hb là phản ứng tự vệ của cơ thể nhằm ngăn chặn ion CN - lọt vào bên trong các tế bào và liên kết chặt chẽ với nhân Fe ++ và Cu ++ trong hệ thống enzym hô hấp cytochrom, giữ cho hệ thống này vẫn thực hiện được chức năng vận chuyển điện tử trong chuỗi phản ứng hô hấp tế bào. Nhưng chính phản ứng tự vệ này đã làm cho Hb mất khả năng vận chuyển oxy và làm cho con vật bị ngộ độc (Lê Đức Ngoan và cs, 2005) [22].