MỞ ĐẦU 4 NỘI DUNG Chƣơng 1: Tổng quan và Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa tri nhận của các mô hình ẩn dụ ý niệm về giảng dạy trong tiếng Việt và trong tiếng Hán Chƣơng 4: Đặc điểm tƣơng đồng và dị biệt của các mô hình ẩn dụ ý niệm về học tập trong tiếng Việt và trong tiếng Hán KẾT LUẬN 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ giai đoạn tiền tri nhận Hiện tƣợng ẩn dụ đƣợc nghiên cứu từ rất sớm. Các nhà hiền triết và tu từ học cổ đại xem ẩn dụ nhƣ một sự chuyển nghĩa tạm thời trong việc sử dụng từ ngữ, dễ thấy nhất là danh từ hoặc cụm danh từ. Khi sử dụng ẩn dụ, một sự vật/hiện tƣợng mới xuất hiện để thay thế cho sự vật/hiện tƣợng trƣớc đó trên cơ sở liên quan, phù hợp lẫn nhau. Có thể nói, ngƣời tiên phong trong việc nghiên cứu ẩn dụ một cách hoàn chỉnh là Aristoteles (384-322 TCN) bởi ông là ngƣời đầu tiên nhắc tới các hình ảnh ẩn dụ và trình bày nó nhƣ một phạm trù nghiên cứu.
Aristoteles (tái bản 2007) đã nhấn mạnh rằng ―Ẩn dụ là dùng cái tên của vật này để chỉ vật khác theo cách lấy chủng để chỉ loại hoặc lấy loại để chỉ chủng, hoặc lấy loại để chỉ loại, dựa theo sự tƣơng đồng‖1. Nói một cách đơn giản, theo ông, ẩn dụ là phƣơng thức chuyển đổi tên gọi. Rất lâu về sau, nhiều triết gia, nhà tu từ học, nhà thần học đã đi tìm hiểu về ẩn dụ, và cơ bản đều tôn trọng quan điểm ẩn dụ mà Aristoteles đã nêu ra. Theo Cicero (1970), đôi khi chúng ta sử dụng ẩn dụ vì không có thuật ngữ nào đảm bảo truyền tải hết ý nghĩa cho điều chúng ta muốn nói đến.
Chúng ta sử dụng ẩn dụ để giải thích đối tƣợng thông qua việc sử dụng các giác quan tự nhiên nhằm đạt đến hiệu ứng sống động và thực tế. Từ những quan niệm cơ sở đƣợc Aristotle khai sáng, đã có rất nhiều công trình kế tục suốt hàng nghìn năm với việc khảo sát và phát triển đặc trƣng bản chất của ẩn dụ thành so sánh – thay thế. Lịch sử nghiên cứu về ẩn dụ ở Việt Nam cũng khá dài. đều nhận định ẩn dụ là cách gọi tên của sự vật này bằng tên của sự vật khác; giữa chúng có mối liên hệ tƣơng đồng.
Từ cách hiểu cơ sở này, ẩn dụ đƣợc xem nhƣ một biện pháp tu từ, và rộng hơn là, một phƣơng pháp phát triển nghĩa. Do đó, ngƣời ta thƣờng thu hẹp phạm vi nghiên cứu ẩn dụ trong văn học và thi ca. 1 Nguyên văn tiếng Anh: ―Metaphor consists in giving the thing a name that belongs to something else; the transference being either from genus to species, or from species to genus, or from species to species, on the grounds of analogy‖. 6 Nghiên cứu lịch sử phát triển của ẩn dụ Trung Quốc đã chỉ ra rằng các nhà hiền triết Trung Quốc cổ đại, từ Trang Tử, Mặc Tử, Khổng Tử đến Lƣu Hiệp, Chu Hi,… đều đã thảo luận đến vấn đề liên quan đến ẩn dụ.
Nền tảng tri thức này tiếp tục đƣợc kế thừa và phát triển. Trong suy nghĩ của Lƣu Hiệp (265–316, thời Tây Tấn) hay Jiao Ran (618-907, thời Đƣờng), âm thanh, ngoại hình, cảm xúc, sự kiện hay chim, cá, thực vật,. Mọi thứ trên thế giới đều có mối liên hệ và có thể dùng nhƣ một ẩn dụ. Đến thời đƣơng đại, tiêu biểu có nhà nghiên cứu Qian Zhongshu (1910-1998).
Về cơ bản, các nhà khoa học đều xác định một đặc điểm chung nhất, đó là: Ẩn dụ là một hiện tƣợng ngôn ngữ (phƣơng thức chuyển nghĩa của từ hoặc biện pháp tu từ), lấy tên gọi của sự vật, hiện tƣợng này để gọi tên cho sự vật, hiện tƣợng khác dựa trên những tƣơng đồng giữa các sự vật, hiện tƣợng đó.2 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ giai đoạn tri nhận Đến những năm 1930, lập luận ẩn dụ nói trên bắt đầu bị phá vỡ với nghiên cứu của tác giả Ivor Armstrong Richards (1936) khi ông cho rằng ―tƣ tƣởng là ẩn dụ‖ và ―chúng ta không thể vƣợt qua ba câu của diễn ngôn trôi chảy thông thƣờng mà không có ẩn dụ‖. Lúc này, vai trò của ẩn dụ đã đƣợc chuyển từ một công cụ tƣợng hình sang một vấn đề ngôn ngữ và một vấn đề của ý niệm và tƣ duy. Những năm sau đó, ngày càng nhiều học giả phƣơng Tây tập trung chú ý vào nghiên cứu ẩn dụ từ quan điểm mới - nhận thức và tƣ duy. Cuốn sách ―Metaphors We Live By‖ (Tạm dịch: Chúng ta sống bằng ẩn dụ) (Lakoff & Johnson,1980) đƣợc ca ngợi là sự khởi đầu của ngôn ngữ học tri nhận.
Họ cho rằng ẩn dụ phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong suy nghĩ và hành động. Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận đƣợc đón nhận và phát triển từ những năm đầu thế kỷ XXI. Tiêu biểu là Lý Toàn Thắng (2005), Trần Văn Cơ (2007), Nguyễn Văn Hiệp (2018),. Cùng với tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới, trong mấy mƣơi năm qua, ngôn ngữ học tri nhận tại Trung quốc trở thành một chủ đề nóng đƣợc nghiên cứu đột phá cả về chất lƣợng và số lƣợng.
Chức năng nhận thức của ẩn dụ dần dần thu hút đƣợc sự chú ý của giới học thuật. Tiêu biểu trong giai đoạn này có các nhà ngôn ngữ học Thẩm Gia Huyên với ―Nghiên cứu ngôn ngữ và tri nhận‖ (2007), Hoàng Hoa Tân với ―Logic, ngôn ngữ và tri 7 nhận‖ (2017), Văn Thu Phƣơng với ―Ngôn ngữ học tri nhận và Giảng dạy ngôn ngữ thứ hai‖ (2013),. Cốt lõi của lý thuyết này là khẳng định ẩn dụ không phải là vấn đề ngôn ngữ mà là vấn đề cấu trúc ý niệm, ẩn dụ nằm trong hệ thống tƣ duy, thể hiện tƣ duy của con ngƣời.3 Tình hình nghiên cứu ẩn dụ về dạy học Trong lĩnh vực ẩn dụ liên quan đến học tập, có rất nhiều nhà tƣ tƣởng phƣơng Tây thực hiện các nghiên cứu về ẩn dụ có giá trị, điển hình là Plato (khoảng 427-347 TCN),. và sau này là John Amos Comenius (1592-1670), John Dewey (1859 - 1952), Jean Piaget (1896 - 1980),.
Edward Twitchell Hall (1959) và George Leonard Trager (1966) đã thảo luận mƣời hệ thống thông điệp cơ bản liên quan đến sinh học tạo nền tảng cho mọi hoạt động văn hóa của con ngƣời trong mô hình ―giao tiếp văn hóa‖, học tập là một trong số đó. Bài báo bao gồm các vấn đề về sự thay đổi lịch sử trong quá trình hình thành tri nhận xã hội, những thách thức đối với các giá trị chính thống truyền thống, các giá trị xã hội đƣơng đại liên quan đến việc học, kế hoạch thay đổi cho giáo dục trong tƣơng lai. Tất cả các khía cạnh này của việc học đƣợc tiếp cận thông qua việc phân tích các mô hình ẩn dụ ý niệm. George Lakoff & Mark Johnson (1980), George Lakoff & Mark Turner (1989) đã có đóng góp trong cuộc tranh luận về các giá trị văn hóa của chủ nghĩa khách quan so với chủ nghĩa chủ quan, học tập trung vào bản chất của cách ngôn ngữ và các mô hình ý niệm hóa cơ bản nhằm định hình sự hiểu biết của chúng ta về trải nghiệm của chính chúng ta trong tâm trí.
Gibbs (1994) đã lập luận ―niềm tin rằng ngôn ngữ theo nghĩa đen là sự phản ánh rõ ràng của tƣ tƣởng và thế giới bên ngoài‖ cũng nhƣ cách sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo theo nghĩa bóng. Các mô hình ẩn dụ ý niệm của George Lakoff và các cộng sự trong lĩnh vực dạy và học cũng nhƣ cách nó hình thành các giá trị văn hóa xã hội là quan điểm chính yếu của luận văn. Nghiên cứu ẩn dụ về dạy học ở Trung Quốc đã và đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Thạch Trung Anh (1997) đã thảo luận các ẩn dụ điển hình trong những công trình tiêu biểu của ba nhà tƣ tƣởng nổi tiếng trong lịch sử giáo dục phƣơng Tây, đó là ẩn dụ ―hang động‖ của Plato, ẩn dụ ―hạt giống‖ của Comenius và ẩn dụ ―tăng trƣởng‖ của Dewey.
Nhóm tác giả Martin Cortazzi & Lixian Jin (1999) đã thực hiện nghiên cứu ẩn dụ trong bối cảnh giáo dục 8 Anh ngữ thông qua việc liệt kê các loại ẩn dụ khác nhau trong quá trình dạy học và so sánh giữa các nền văn hóa, nhƣng điều này nhằm mục đích tiết lộ các định hƣớng văn hóa khác nhau đối với việc học mà không giải thích động cơ nhận thức của ngƣời dạy/ngƣời học. Trong công trình nghiên cứu công bố năm 2008, nhóm tác giả Martin Cortazzi & Lixian Jin đã khám phá đặc trƣng ẩn dụ dạy học trong tiếng Hán bằng cách phân tích hình ảnh, phƣơng pháp học tập và cách đặt câu hỏi của các giáo viên trong quá trình truyền đạt kiến thức, sau đó tiến hành so sánh với của các quốc gia khác (nhƣ Singapore, Vƣơng quốc Anh, Hoa Kỳ,. ) trên cơ sở đặc điểm văn hóa. Nghiên cứu của Erich A.
Berendt (2008) tập trung vào việc so sánh các hình thức ẩn dụ của khái niệm ―học tập‖ trong bối cảnh Trung Quốc và Nhật Bản. Nhóm tác giả Trƣơng Học Cƣờng và Quách Văn Bác (2009) tiếp tục phân tích các ẩn dụ về ―mặt trời‖, ―đoạn thẳng‖ và ―hang động‖ trong Cộng hòa (Plato).Gao Wei 高维 (2009) đã đề cập đến ẩn dụ giáo dục, nhƣng trọng tâm không phải là đặc điểm tri nhận mà ông tập trung phân tích các ẩn dụ về ―kinh nghiệm‖, ―sinh trƣởng‖ của Dewey, và ―đồng hóa‖, ―điều tiết‖, ―cân bằng‖, ―tự tổ chức‖ của Dole, ông đã nêu rõ vai trò của ẩn dụ trong đổi mới giáo dục và phát triển lý thuyết giảng dạy trở nên có giá trị thực tiễn hơn. Trong nghiên cứu điều tra ẩn dụ trong bối cảnh giáo dục Trung Quốc đƣơng đại, nhóm tác giả Martin Cortazzi & Lixian Jin thông qua việc tìm hiểu hình ảnh các nhà giáo dục, hình ảnh ngƣời học và cách đặt câu hỏi trong quá trình tham gia hoạt động dạy học ở Trung Quốc đã chỉ ra một số ẩn dụ ý niệm liên quan đến cả hoạt động dạy và hoạt động học, đó là HỌC TẬP LÀ TƢ THẾ THẲNG ĐỨNG, HỌC TẬP LÀ HÀNH TRÌNH VÔ TẬN, HỌC TẬP LÀ TIÊU HÓA, GIÁO DỤC LÀ TRỒNG TRỌT, DẠY HỌC LÀ MÀI NGỌC, DẠY HỌC LÀ THÚC ĐẨY TĂNG TRƢỞNG,. cũng nhƣ so sánh mô tả (thay vì giải thích) văn hóa Trung Quốc với các nền văn hóa khác (nhƣ Singapore, Anh, Mỹ, Liban, Malaysia).
Các nhà nghiên cứu khác nhƣ Liu (2008), Gao (2009), .