Chương 1: Giới thiệu tổng quan Tác giả đi vào giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Bao gồm: Tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trong đó, tác giả đưa ra những lý luận cơ bản về mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài với hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp, các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của sở hữu nước ngoài đến hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày cụ thể về mô hình sử dụng trong nghiên cứu, các biến được lựa chọn trong mô hình, giả thuyết nghiên cứu mà tác giả kỳ 10 vọng, phương pháp nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu,nêu ra thống kê mô tả của dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu, ma trận tương quan giữa các biến. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Ở đây, tác giả đưa ra kết quả nghiên cứu và thảo luận dựa trên kết quả đó.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Trong chương cuối cùng này, tác giả kết luận tổng quan về kết quả nghiên cứu, đưa ra một vài khuyến nghị chính sách. Đồng thời, trình bày một số hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Lý luận cơ bản về mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài với hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp. Cấu trúc sở hữu trong doanh nghiệp, sở hữu nước ngoài. Trong doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu có thể được xác định theo hai khía cạnh: Quyền sở hữu tập trung (ownership concentration) và quyền sở hữu hỗn hợp (ownership mix) (Guner Gursoy & Kursat Aydogan, 2002). Quyền sở hữu tập trung là tỷ lệ phần trăm vốn cổ phần sở hữu bởi ba cổ đông lớn nhất.
Như vậy, sở hữu tập trung đo lường mức độ tập trung của quyền biểu quyết trong công ty. Trong nghiên cứu của Demsetz, H. (1985) thì cho rằng, có ba cách đo lường quyền sở hữu tập trung: tỷ lệ phần trăm cổ phần phổ thông được sở hữu bởi 5 cổ đông lớn nhất, tỷ lệ vốn cổ phần sở hữu bởi 20 cổ đông lớn nhất, và xấp xỉ chỉ số Herfindahl về đo lường quyền sở hữu tập trung. Còn quyền sở hữu hỗn hợp theo Guner Gursoy & Kursat Aydogan (2002), đề cập đến loại cổ đông.
Do đó, quyền sở hữu hỗn hợp sẽ bao gồm sở hữu gia đình, sở hữu của chính phủ, sở hữu nước ngoài, sở hữu chéo, sở hữu liên kết tập đoàn. Sở hữu nước ngoài đề cập đến quyền sở hữu /kiểm soát một phần hoặc toàn bộ một doanh nghiệp bởi cá nhân không phải công dân quốc gia đó hoặc bởi các công ty có trụ sở chính không ở quốc gia đó. Ở đây, trong phạm vi của luận văn này, sở hữu nước ngoài được xét dưới góc độ là tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư tư nhân nước ngoài. Tại Việt Nam, Nghị định số 60/2015/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2015 có quy định rõ: “Tỷ lệ sở hữu nước ngoài là tổng tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp có quyền biểu quyết của tất cả nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên trong một công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán hoặc quỹ đầu tư chứng khoán.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong các công ty cổ phần, hiệu quả hoạt động là chỉ tiêu quan trọng, được các bên liên quan như các cổ đông, ban giám đốc, hội đồng quản trị, các chủ 12 nợ…quan tâm. Thông qua hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các bên liên quan có thể ra quyết định đầu tư hay kinh doanh.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất phát từ khái niệm hiệu quả kinh doanh, phản ánh quan điểm của quản lý chiến lược, là một tập hợp con của hiệu quả tổ chức (N. Venkatraman & Vasudevan Ramanujam, 1986). Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động đến từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy et al,1996). Xét theo lý thuyết tổ chức và quản trị doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được tiếp cận theo hướng mục tiêu hoặc theo hệ thống.
Trường hợp tiếp cận theo hướng mục tiêu thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được hiểu là hiệu quả tài chính hay hiệu quả phi tài chính. Venkatraman & Vasudevan Ramanujam (1986), hiệu quả hoạt động dựa vào việc đánh giá các chỉ số tài chính trong việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế của công ty. Điển hình của cách tiếp cận này là đánh giá hiệu quả hoạt động qua các chỉ số về khả năng sinh lợi, tỷ số giá trị thị trường. Trên phương diện rộng hơn, hiệu quả hoạt động bao gồm cả hiệu quả phi tài chính như: thị phần, giới thiệu sản phẩm mới, chất lượng sản phẩm, hiệu quả tiếp thị, và các biện pháp về hiệu quả công nghệ trong lĩnh vực kinh doanh…(N.
Venkatraman & Vasudevan Ramanujam, 1986). Trường hợp tiếp cận theo hướng hệ thống, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là hiệu quả của toàn bộ hệ thống, được đo lường bằng hiệu quả của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp gộp lại, bao gồm bộ phận quản lý, bộ phận chăm sóc khách hàng, bộ phận marketing…Theo cách tiếp cận này, nhiều mô hình đã được đưa ra nhằm đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như: bảng điểm cân bằng của Kaplan và Norton (được cấu thành từ bốn khía cạnh riêng biệt: tài chính, khách hàng, hoạt động kinh doanh nội bộ, học tập và phát triển) (Kaplan, R, & D, Norton, 1992), lăng kính hiệu suất của Kennerly và Neely, ma trận đo lường hiệu suất của Keegan và cộng sự, kim tự tháp SMART của Lynch và Cross,… 13 Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận theo hướng mục tiêu. Chỉ số EPS (đại diện cho thu nhập của mỗi cổ phiếu hay đại diện cho khả năng sinh lời doanh nghiệp đối với mỗi cổ đông) được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Điển hình của cách tiếp cận theo hướng mục tiêu là đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua các chỉ số về khả năng sinh lợi, tỷ số giá trị thị trường. * Đánh giá dựa trên các chỉ số về khả năng sinh lợi. Tỷ số sinh lợi đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, vốn cổ phần. Loại chỉ số này bao gồm các chỉ tiêu cơ bản sau: - Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (Net profit margin ratio): Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu = Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho thấy, cứ một đồng doanh thu thuần sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng, chỉ ra mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận.
Đây là hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu được coi như một tỷ lệ được sử dụng rộng rãi để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành. Tỷ lệ này rất khác nhau đối với các ngành khác nhau, vì vậy hữu ích hơn trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động giữa các công ty khác nhau trong cùng ngành.
- Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return on total assets ratio -ROA): Tỷ suất sinh lợi trên tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của một công ty trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế sau khi đã trừ thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. 14 Lợi nhuận ròng + Chi phí lãi vay đã khấu trừ thuế thu nhập ROA = Tổng tài sản bình quân Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản là suất sinh lời trên tài sản của công ty sau thuế. ROA chưa tính đến tác động của khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay. Chỉ số này là cơ sở quan trọng để những người đi vay hay cho vay cân nhắc ra quyết định liệu xem công ty có thể tạo ra mức sinh lợi cao hơn chi phí sử dụng nợ hay không.
Đồng thời, ROA còn là cơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn. Như vậy, ROA phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của công ty. - Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (Return on equity ratio - ROE): Lợi nhuận ròng ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân Lợi nhuận ròng Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân = x x Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân Vốn chủ sở hữu bình quân = Tỷ suất lợi nhuận biên ròng x Vòng quay tài sản x Hệ số đòn bẩy tài chính. Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần cho biết một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào công ty đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Lưu ý, lợi nhuận này là lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần có liên quan đến chi phí lãi vay, liên quan đến chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì vậy, nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính (Ngô Kim Phượng và các tác giả, 2010). - Tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần thường (Return on Common Equity - ROCE).
Đứng dưới góc độ những công ty cổ phần có huy động cổ phiếu ưu đãi, do cổ phiếu ưu đãi đã được hưởng phần lãi suất cố định (còn gọi là cổ tức ưu đãi), thì 15 chỉ cổ đông thường thực tế mới là những người gánh chịu rủi ro hoặc được hưởng phần lợi nhuận cuối cùng tùy thuộc vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu phải được xác định trên cơ sở suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường. Lợi nhuận ròng - Cổ tức ưu đãi ROCE = Vốn cổ phần thường bình quân. Tương tự như các tỷ số sinh lợi khác, tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần thường cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty.
Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng vốn của cổ đông thường để tạo ra lợi nhuận cho chính họ.