CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỞ HỮU CHÉO GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 1.1 Khái quát chung về sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp tài chính ngân hàng 1.1 Khái luận chung về sở hữu chéo Trước khi trở thành một thuật ngữ pháp lý, sở hữu chéo đã là vấn đề được nghiên cứu khá nhiều ở cả hai khía cạnh: kinh tế và pháp lý. Nhìn chung, quan điểm về sở hữu chéo trong các công trình nghiên cứu nhìn nhận sở hữu chéo theo hai trường hợp sau: - Quan điểm thứ nhất: Sở hữu chéo được hiểu là mối quan hệ giữa hai hay nhiều chủ thể kinh tế trong đó các chủ thể kinh tế này có quan hệ sở hữu lẫn nhau1, nghĩa là giữa doanh nghiệp A và B chỉ tồn tại sở hữu chéo, nếu A sở hữu phần vốn của B, và ngược lại, B sở hữu phần vốn của A2. - Quan điểm thứ hai: sở hữu chéo không chỉ bao gồm hiện tượng sở hữu lẫn nhau nêu trên, mà nó còn bao gồm hiện tượng doanh nghiệp này chiếm giữ cổ phần tại doanh nghiệp khác3. Điều này có nghĩa là chỉ cần doanh nghiệp A sở hữu phần vốn của doanh nghiệp B thì đã được xem như tồn tại mối quan hệ sở hữu chéo giữa hai doanh nghiệp, mà không cần xem xét B có sở hữu phần vốn của A hay không.
Các nhà lập pháp bằng các quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghị định hướng dẫn thi hành đã đi theo quan điểm thứ nhất. 1 Trích Nghiên cứu về sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (tác giả: Vũ Hoàng Cương, Phạm Minh Tuấn, Phạm Đức Nam và nhóm cộng sự CLB Sinh viên Nghiên cứu khoa học, SRC) 2 Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Đinh Công Khải, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn được trình bày tại Báo cáo nghiên cứu “Sở hữu chéo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam: đánh giá và các khuyến nghị thể chế” nhóm tác giả này đã theo quan điểm thứ nhất: sở hữu chéo là khái niệm để chỉ một hiện tượng xảy ra khi công ty A nắm giữ cổ phần của công ty B mà công ty B này cũng đang nắm giữ cổ phần tại công ty A. Nói khác đi, sở hữu chéo là hiện tượng nắm giữ cổ phần qua lại giữa những công ty với nhau. 3 Trích Vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tại Việt Nam của tác giả Đinh Tuấn Minh 123doc 10 Trước Luật Doanh nghiệp 2014, chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra định nghĩa hoặc giải thích như thế nào được xem là sở hữu chéo.
Nhưng trong Dự thảo lần thứ nhất Thông tư hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ mở năm 2010 của Bộ Tài chính, điều khoản về phần giải thích từ ngữ đã giải thích cụm từ được xem là tương đồng với “sở hữu chéo” là “đầu tư chéo” như sau: “Đầu tư chéo là việc một tổ chức tham gia góp vốn đầu tư (tổ chức đầu tư) vào một tổ chức khác (tổ chức nhận đầu tư), sau đó, tổ chức nhận đầu tư lại tham gia các hợp đồng kinh tế hoặc đầu tư ngược lại vào tổ chức đầu tư”. Tuy nhiên, phần giải thích cũng như thuật ngữ “đầu tư chéo” này đã bị loại bỏ khi Thông tư này được chính thức ban hành. “Sở hữu chéo” chỉ thực sự trở thành một thuật ngữ pháp lý khi nó được chính thức quy định tại Luật doanh nghiệp 2014. Khoản 2 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.
Sau đó, lần đầu tiên trong lịch sử pháp lý, sở hữu chéo được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP: Sở hữu chéo là việc đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau. Mặc dù, định nghĩa này chỉ mới phản ánh được mức độ sơ khai và đơn giản nhất của sở hữu chéo, nhưng nó đã cho thấy quan điểm pháp lý chính thức về sở hữu chéo. Trong suốt Luận văn, tác giả tán đồng và phân tích sở hữu chéo theo quan điểm pháp lý này, cũng là quan điểm thứ nhất về sở hữu chéo.2 Khái luận chung về sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp tài chính – ngân hàng Cho đến nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa đưa ra bất kỳ định nghĩa hay giải thích nào về sở hữu chéo, vì vậy, có thể sử dụng cách hiểu thuật ngữ sở hữu chéo tại Luật Doanh nghiệp 2014 và văn bản hướng dẫn thi hành để giải thích cho sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp tài chính – ngân hàng. Sở hữu chéo ngân hàng có thể xảy ra khi các bên hoặc một trong các bên tham gia sở hữu chéo là ngân hàng, theo hai trường hợp: - Các bên tham gia sở hữu chéo đều là ngân hàng; 123doc 11 - Một bên trong mối quan hệ sở hữu chéo là ngân hàng, (các) bên còn lại là doanh nghiệp tài chính hoặc phi tài chính khác.
Ngân hàng, về mặt lý thuyết, có thể tham gia vào mối quan hệ sở hữu chéo một cách chủ động hoặc bị động. Thứ nhất, tham gia sở hữu chéo một cách chủ động được hiểu là ngân hàng thực hiện sở hữu chéo thông qua các thỏa thuận. Việc này được thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động: (i) Ngân hàng hoặc doanh nghiệp tăng vốn thông qua việc chào bán cổ phần cho một hoặc một số doanh nghiệp/ngân hàng xác định mà doanh nghiệp/ngân hàng tăng vốn hiện đang là cổ đông của những doanh nghiệp/ngân hàng được chào bán; (ii) Các doanh nghiệp cùng tăng vốn và thỏa thuận nắm giữ phần vốn của nhau. Trong trường hợp các bên thỏa thuận để cùng nằm giữ phần vốn của nhau, việc thỏa thuận này không chỉ phục vụ cho các mục đích ngắn hạn4.
Các doanh nghiệp và ngân hàng thường mong muốn cùng thực hiện một thỏa thuận về việc nắm giữ nguồn vốn của nhau trong dài hạn, và trở thành những cổ đông ổn định (Stable Shareholders) của nhau. Cổ đông ổn định có nghĩa là5: - Cổ đông này thân thiện với quản lý của doanh nghiệp; - Cổ đông cam kết về việc sẽ không bán phần vốn góp cho bất kỳ bên nào có ý định chống lại ý chí của thành phần quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là những người mua có ý định tham gia thâu tóm thù địch với doanh nghiệp; - Trong trường hợp cần thiết phải bán đi phần vốn, cổ đông sẽ thông báo trước một thời gian cho doanh nghiệp về việc này; 4 Okabe, M. "Are cross-shareholding of Japanese corporation dissolving? Evolution and implications". University of Oxford, Nissan Institude, Paper Series No.
5 Guo Li & Yakura Shinsuke, 2010. The Cross Holding of Company Shares: A preliminary Legal Study of Japan and China. [Online] Available at: http://papers.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1618688 [Accessed 18 Nov. 123doc 12 - Ngoài ra, các cổ đông này cam kết sẽ mua cổ phiếu của doanh nghiệp còn lại khi doanh nghiệp này phát hành thêm cổ phiếu trong trường hợp cần thiết6.
Nói cách khác, khi đã gọi là cổ đông ổn định, người ta hướng về động cơ và thời gian sở hữu cổ phiếu mà không quan tâm đến thị giá của phần vốn mà họ đang nắm giữ lên hay xuống7. Trong mối quan hệ sở hữu chéo, các bên có thể sẽ đóng vai trò là cổ đông ổn định của nhau. Thứ hai, doanh nghiệp và ngân hàng tham gia sở hữu chéo một cách bị động, có nghĩa là một trong các bên trong mối quan hệ sở hữu chéo hoàn toàn không có chủ ý nắm giữ phần vốn của cổ đông. Tình huống này có thể giả sử như sau: A là cổ đông của B.
Sau đó B mua cổ phần của A từ một bên thứ ba. Như vậy, A và B cùng tham gia sở hữu chéo nhưng điều này nằm ngoài ý chí của A. Hoạt động sở hữu chéo có thể không diễn ra đơn giản với sự xuất hiện của hai bên, bởi đây là chỉ là cách hiểu theo mô hình hẹp nhất. Trên thực tế, hoạt động này có thể được thực hiện với sự tham gia của rất nhiều bên khác nhau.
Ví dụ, A sở hữu phần vốn của B, B sở hữu phần vốn của C, C sở hữu phần vốn của A tạo thành một vòng tròn. Về mặt lý thuyết, số lượng các doanh nghiệp trung gian là không hạn chế, đây là một cách hiểu về sở hữu chéo theo nghĩa rộng hơn.2 Phân loại sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp tài chính ngân hàng Theo Báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia8, sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể chia thành các nhóm sau: - Sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh: Hiện nay, có năm ngân hàng liên doanh trong hệ thống các tổ chức tín dụng của Việt Nam. Thông thường một ngân ngân hàng liên doanh được sở hữu bởi một 6 Mark Scher (2001), “Bank-firm Cross-shareholding in Japan: What is it, why does it matter, is it winding down?”, Econimic & Social Affairs, DESA Discussion Paper No. "Are cross-shareholding of Japanese corporation dissolving? Evolution and implications".
University of Oxford, Nissan Institude, Paper Series No. 8 Ủy Ban Kinh tế của Quốc hội – Nhóm tư vấn Chính sách kinh tế vĩ mô, 2012. Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012: Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu. Hà Nội: Nhà xuất bản Tri thức.
123doc 13 ngân hàng nước ngoài và một ngân hàng trong nước. Ví dụ: Ngân hàng Việt Thái là ngân hàng liên doanh giữa ba đối tác lớn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại Siam của Thái Lan và Tập đoàn Charoen Pokphand (CP) của Thái Lan với tỷ lệ vốn góp tương ứng là 34%, 33% và 33%; Ngân hàng Việt Nga là liên doanh giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng VTB (trước là Ngân hàng Ngoại thương Nga Vneshtorgbank) với mức góp vốn điều lệ ngang nhau. - Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các ngân hàng thương mại, cả nhà nước lẫn cổ phần: Trước nhu cầu thu hút vốn và kỹ năng quản trị từ các định chế tài chính có kinh nghiệm nước ngoài, Ngân hàng Nhà nước đã có chủ trương khuyến khích các ngân hàng thương mại trong nước tìm kiếm các đối tác nước ngoài làm cổ đông chiến lược. Đến nay, có khá nhiều ngân hàng thương mại có đối tác chiến lược là các tập đoàn tài chính nước ngoài.