CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Cơ sở lí luận Cầu lông là môn thể thao đối kháng, kĩ thuật động tác luôn thay đổi theo mọi tình huống. Đặc trưng cơ bản của cầu lông là cường độ hoạt động và di chuyển luôn thay đổi, tốc độ động tác riêng lẻ không có tính chu kỳ. Khi đập cầu là động tác vung tay chưa kể trước đó cần phải có tốc độ tới vị trí đánh cầu (nó khác biệt so với chạy ngắn) tốc độ cầu đến và điểm rơi của cầu, các yếu tố này thường xuyên thay đổi.
Nâng cao sức mạnh trong đánh cầu có ý nghĩa rất lớn, nó giúp cho việc nâng cao cường độ của quá trình hưng phấn và ức chế thần kinh, đồng thời nâng cao được tốc độ khi thực hiện động tác kĩ thuật. Di chuyển trong Cầu lông là loại hình di chuyển rất phức tạp, không mang tính chu kỳ và biên độ không ổn định, Tốc độ luôn thay đổi và chuyển hướng bất ngờ. Khi đối phương đánh các đường cầu gần thì vận động viên sử dụng kĩ thuật di chuyển đơn bước đánh cầu. Nhưng khi đối phương đánh các đường cầu xa người thì buộc vận động viên phải sử dụng kĩ thuật di chuyển đa bước hoặc kĩ thuật bước nhảy để đánh cầu.
Một yêu cầu quan trọng khi sử dụng sức mạnh trong các động tác kĩ thuật của Cầu lông là cần thiết phát huy được tốc độ tối đa để tăng cường hiệu quả của kĩ thuật đó và gây cho đối phương những tình huống bất ngờ và bị động trong quá trình thi đấu. Đồng thời phải duy trì được sức mạnh đó trong suốt thời gian dài của quá trình thi đấu, không phải chỉ trong từng trận đấu mà trong suốt thời gian diễn ra giải. Theo CT GDPT 2018 môn GDTC đặt ra những mục tiêu chung như: Phát triển các năng lực chăm sóc sức khỏe, vận động cơ bản và thể dục thể thao nhằm phát triển các tố chất thể lực của HS; giúp HS phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần. HS có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành công dân có trách nhiệm, người lao động có sức khỏe, văn hóa, cần cù, sáng tạo…thời lượng dành cho môn GDTC ở mỗi lớp là 70 tiết trong năm học, được phân bổ cho các nội dung phù hợp với từng cấp học.
Ví dụ ở bậc tiểu học, nội dung vận động cơ bản với các bài tập đội hình đội ngũ, bài tập thể dục, tư thế và kỹ năng vận động chiếm 65% thời lượng. Ở bậc THPT, nội dung trên không còn. Thay vào đó, các môn thể thao tự chọn chiếm 90% thời lượng; thời gian còn lại dành cho đánh giá cuối kỳ, cuối năm học. Với bậc THPT mục tiêu đặt ra là giúp HS biết lựa chọn môn thể thao phù hợp để rèn luyện sức khoẻ; phát triển hoàn thiện thể chất; biết điều chỉnh chế độ sinh hoạt và tập luyện… Đặc biệt, thông qua hoạt động thể dục thể thao trong và ngoài nhà trường, HS có ý thức tự giác, sống có trách nhiệm, tự tin, trung thực, 4 dũng cảm… từ đó có những định hướng cho tương lai, đáp ứng xu thế hội nhập toàn cầu.
Và HS khối 10 thường tự chọn môn cầu lông để rèn luyện sức khoẻ trong chương trình học môn GDTC của mình. Cơ sở thực tiễn 1. Thực trạng dạy học môn cầu lông hiện nay. * Thực trạng cơ cở vật chất phục vụ học tập môn cầu lông: TT Sân tập, dụng cụ Số lượng Mức độ đáp ứng 1 Sân cầu lông 3 sân Đáp ứng ở mức độ bình thường 2 Vợt cầu lông 100 bộ Đáp ứng ở mức độ bình thường Bảng 1.
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ tập luyện môn cầu lông Qua bảng 1 cho thấy: Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho tập luyện cầu lông của nhà trường chưa đảm bảo về số lượng còn chất lượng thì chỉ đáp ứng được ở mức bình thường, ba sân cầu lông không đáp ứng đủ cho việc học tập và tự tập luyện môn cầu lông vì số lượng HS học quá đông. Với số lượng HS ngày càng tăng như hiện nay thì cơ sở vật chất trên chưa đáp ứng được yêu cầu môn học cầu lông và huấn luyện nâng cao cho các em đội tuyển dự các kì thi như HKPĐ. * Đối với đội ngũ GV: Đội ngũ GV GDTC của nhà trường đều đã tốt nghiệp Đại học và Sau Đại học, số giảng viên dưới 35 tuổi 1/7 chiếm 14.29%, trên 35 tuổi 1/7 chiếm 14.29%, từ 40 tuổi trở lên 5/7 chiếm 71. Người có thâm niên công tác cao nhất là 20 năm, người ít nhất là 05 năm.
Đây là tiềm năng lớn nếu khai thác hết khả năng thì có thể đáp ứng tốt nhiệm vụ huấn luyện môn cầu lông. Tuy nhiên số lượng GV đa số được học từ các trường Đại học sư phạm Giáo dục thể chất, chưa có kinh nghiệm trong công tác huấn luyện đội tuyển cho các môn thể thao trong đó có môn cầu lông, điều đó đã dẫn tới hạn chế trong công tác huấn luyện đặc biệt là môn cầu lông. * Đối với HS: Trong chương trình giảng dạy môn cầu lông ở các trường THPT. Các em chỉ được học các kỹ thuật của môn cầu lông chứ các em không được trang bị về thể lực.
Nếu người GV không đưa các bài tập bổ trợ vào để giảng dạy mà chỉ thực 5 hiện các bài tập trong yêu cầu của kế hoạch dạy học và các bài tập hướng dẫn trong SGK thì: - Thứ nhất: HS chỉ biết được kỹ thuật cơ bản chứ khi áp dụng kỹ thuật đó vào thi đấu thì không thực hiện được vì thiếu thể lực, di chuyển chậm. Lực không đủ để đánh đường cầu đi như mong muốn. - Thứ hai: Yêu cầu của chương trình mới thay sách giáo khoa, chủ yếu các em phát triển về tố chất vận động và thực hiện cơ bản đúng về kỹ thuật môn học là chính. - Thứ ba: Nếu không củng cố thể lực chuyên môn cho các em, nội dung học lặp lại nhiều lần, thể lực chuyên môn của người học yếu dẫn đến người học bị sớm mệt mỏi nhàm chán thiếu hứng thú tập luyện.
Chọn đối tượng khảo sát tính cấp thiết của đề tài và dự kiến áp dụng. Đối tượng tôi chọn là HS của 6 lớp 10 (năm học 2023-2024) với 247 em. Tỷ lệ nam nữ giữa các lớp tương đương với nhau. Thể lực giữa các lớp lúc chọn vào là ngẫu nhiên gần như bằng nhau.
Được chia làm 2 nhóm; 1 nhóm làm thực nghiệm, nhóm còn lại để đối chứng. Nhóm thứ nhất (ĐC): Tập luyện bình thường (ĐC) theo hướng dẫn của sách GV bao gồm các lớp: Lớp 10A1 có 42 HS Lớp 10C3 có 38 HS Lớp 10C5 có 42 HS. Tổng số HS của nhóm thứ nhất là 122 HS. Nhóm thứ hai (TN): Tập luyện theo phương pháp thực nghiệm (TN) áp dụng các bài tập bổ trợ phát triển thể lực chuyên môn môn cầu lông vào giảng dạy: Lớp 10A5 có 40 HS Lớp 10C1 có 45 HS Lớp 10C7 có 40 HS Tổng số HS nhóm thứ hai là: 125 HS.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 14 người ở 02 môi trường khác nhau là 10 GV dạy GDTC tại trường THPT là THPT Diễn Châu II và 4 GV dạy GDTC THPT Diễn Châu 4 vào tháng 09/2023, để xác minh tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, cả 14 người được khảo sát đều thường xuyên luyện tập môn cầu lông. 6 Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện số lượng GV làm hướng nghiệp tham gia KS Xây dựng câu hỏi KS với tên biện pháp ban đầu và kết quả khảo sát thu được như sau: GV STT Câu hỏi khảo sát Nội dung trả lời Số lượng Tỷ lệ % Rất cấp thiết 10 71.4 Theo thầy (cô) cho biết “Phương pháp nhằm Cấp thiết 4 28.6 nâng cao hiểu quả dạy 1 học môn cầu lông cho HS lớp 10 THPT” có cấp Ít cấp thiết 0 0 thiết không? Không cấp thiết 0 0 Bảng 1: Kết quả khảo sát GV THPT trên địa bàn huyện Diễn Châu: Biểu đồ 1: Mô tả KS GV về tính cấp thiết của đề tài 7 Để chắc chắn có cơ sở khoa học tin cậy hơn chúng tôi xây dựng bảng câu hỏi với thang đo 4 mức (từ 1 đến 4) để xác minh tính cấp thiết của các giải pháp đã đề xuất tất cả số liệu được xử lí qua phần mềm R. R là một phần mềm chuyên dùng để phân tích và xử lí số liệu dùng để thống kê có độ tin tưởng khoa học rất cao. Hình 1 : Giao diện phần mềm xử lí số liệu thống kê R Thu thập số câu trả lời từ khảo sát GV trên phần mềm R mô tả như sau: Hình 2: Kết quả xử lí số liệu khả thi của Gv trên PM thống kê R Các thông số TT Câu hỏi khảo sát tính khả thi Mức Theo thầy (cô) cho biết “Phương pháp nhằm Trong khoảng cấp 1 nâng cao hiểu quả dạy học môn cầu lông cho HS 3.96 thiết và rất cấp lớp 10 THPT” có cấp thiết không? thiết Bảng 2: Kết quả khảo sát tính cấp thiết đối với GV: 8 Sau khi biện pháp được đón nhận, chúng tôi tự tin tiến hành xây dựng 5 giải pháp cụ thể để phát triển tương ứng 5 tố chất nâng cao hiệu quả thi đấu môn cầu lông sau đó tiếp tục gửi câu hỏi KS đến các GV.
Số liệu thu được tiếp tục xử lí qua phần mềm R được mô tả theo bảng sau: Các thông số TT Các giải pháp Mức Việc sử dụng các bài tập bổ trợ nhằm nâng cao các tố chất thể lực là giải Trong khoảng cấp 1 pháp để nâng cao hiệu quả tập luyện 3,81 thiết và rất cấp và thi đấu môn cầu lông cho HS lớp thiết 10 THPT có cấp thiết hay không? Phát triển tố chất sức mạnh nhằm Trong khoảng cấp 2 nâng cao hiệu quả tập luyện môn cầu 3,93 thiết và rất cấp lông có cấp thiết hay không? thiết Phát triển tố chất sức nhanh nhằm Trong khoảng cấp 3 nâng cao hiệu quả tập luyện môn cầu 3.90 thiết và rất cấp lông có cấp thiết hay không? thiết Phát triển tố chất sức bền nhằm nâng Trong khoảng cấp 4 cao hiệu quả tập luyện môn cầu lông 3,91 thiết và rất cấp có cấp thiết hay không? thiết Phát triển tố chất khéo léo nhằm nâng Trong khoảng cấp 5 cao hiệu quả tập luyện môn cầu lông 3,94 thiết và rất cấp có cấp thiết hay không? thiết Một biện pháp muốn biết có tính cấp thiết không cũng nên tìm hiểu qua thực thể được tác động đó chính là HS.