đặt vấn đề hợp lý và có sự linh hoạt trong việc ĐG giải pháp của HS. - Từ khâu đặt ra tình huống, xác định vấn đề và đưa ra giải pháp cần sử dụng nhiều thời gian hơn so với PPDH truyền thống, đòi hỏi GV cần sắp xếp thời gian hoạt động sao cho hợp lý trong tiết học/ chủ đề. Mối quan hệ giữa dạy học giải quyết vấn đề và việc phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh Dạy học GQVĐ là PPDH đem lại nhiều ưu thế trong dạy học phát triển NL nói chung và NL thích ứng với cuộc sống nói riêng. Để phát triển NL thích ứng với cuộc sống cho HS, trong quá trình tổ chức dạy học GQVĐ, GV cần tạo điều kiện để HS trải nghiệm các thao tác của NL tương ứng.
GV tạo cơ hội cho HS được trải nghiệm thao tác nghiên cứu tình huống, nhận ra vấn đề, phát biểu vấn đề nghiên cứu; tạo cơ hội cho HS trải nghiệm tìm kiếm tri thức mới cũng như huy động vốn kinh nghiệm của bản thân để chủ động, sáng tạo trong việc lập luận đưa ra giả 12 thuyết, đề xuất giải pháp, thực hiện giải pháp để kiểm chứng giả thuyết; HS được chủ động thu thập bằng chứng, phân tích, xử lí để rút ra kết luận và ĐG kết quả thu được. Qua những trải nghiệm này, NL thích ứng với cuộc sống của HS ngày càng được phát triển. Các HĐTN được tổ chức nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; tạo cơ hội để HS được tham gia trải nghiệm, tìm tòi, khám phá và vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có vào đời sống hằng ngày, từ đó hình thành, phát triển kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề. Như vậy, qua các phân tích trên cho thấy dạy học GQVĐ là PPDH đem lại nhiều ưu thế phát triển NL thích ứng với cuộc sống cho HS trong tổ chức HĐTN.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có các nghiên cứu về tổ chức HĐTN, HN phát triển NL thích ứng với cuộc sống cho HS ở cấp THPT bằng PPDH GQVĐ. Mối liên hệ giữa nội dung trải nghiệm Chủ đề 2 – Khám phá và phát triển bản thân (Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 10) với nội dung “Rèn luyện kỷ luật bản thân” 2. Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông “HS THPT” là thuật ngữ để chỉ nhóm HS đầu tuổi thanh niên (từ 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi). Theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi mới lớn.
Tuổi thanh niên chia ra làm 2 thời kỳ: Từ 14, 15 tuổi đến 17, 18 tuổi: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (giai đoạn HS THPT). Từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (giai đoạn thanh niên – sinh viên) [12]. Tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển khá ổn định về mặt thể chất và tâm lý. Tuy nhiên, ở giai đoạn này nhiều nét tâm lý mới được hình thành và phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển nhân cách nói chung của các em: tình yêu nam nữ, sự chín muồi trong phát dục, vị trí mới trong gia đình và xã hội, tính tích cực, năng động trong hoạt động xã hội, tự ý thức phát triển mạnh, tâm thế coi mình là người lớn, muốn tự khẳng định mình, thế giới quan ngày càng hoàn thiện, khát vọng thành đạt kéo theo ý thức về việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai và khả năng tập trung, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu.
Sự phát triển của tự ý thức, tự đánh giá bản thân Khả năng tự ý thức phát triển khá sớm và được hoàn thiện từng bước, đến 16- 18 tuổi thì phát triển mạnh, trở thành một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của thanh niên mới lớn, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý lứa tuổi này. Biểu hiện đặc trưng là thanh niên nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng, ở mức cao hơn, đó là khả năng tự đánh giá về mình theo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lý, đạo đức. Tự ý thức có liên quan mật thiết đến sự ĐG bản thân. Sự tự đánh giá bản thân có thể hiểu là cá nhân ĐG chính mình về các mặt như: “cái tôi trường học” (NL nhận 13 thức, NL học tập), “cái tôi xã hội” (NL giao tiếp, NL thích ứng xã hội), “cái tôi thể chất” (sức khỏe, hình dạng), “cái tôi cảm xúc” (sự hài lòng về bản thân mình),… HS THPT có khả năng tự ý thức cao, do có trình độ học vấn, khối lượng tri thức, kinh nghiệm sống ở mức tương đối cao, tạo điều kiện cho tự ý thức phát triển mạnh.
Đây là lứa tuổi luôn muốn tự phát hiện ra mình nên luôn tự đặt ra những câu hỏi tự ý thức, đồng thời các em thích tự thử thách NL của mình: đặt ra các kì vọng, so sánh kết quả với kì vọng đã đặt ra, nhằm phát hiện khẳng định bản thân. Nội dung của tự ý thức khá phức tạp. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại như thiếu niên mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai, về các mối quan hệ của mình với những người xung quanh (Mình cần trở thành người như thế nào? Mọi người có yêu quý mình không? Cần làm gì để tốt hơn? …. Nhìn chung, đa số HS THPT nếu được giáo dục trong bầu không khí đạo đức lành mạnh, trong các HĐ tập thể HS thân ái thì sự phát triển của các em cũng thường tích cực, tốt đẹp.
Ngược lại, nếu các em bị lôi kéo vào những nhóm tự phát, không lành mạnh, các em dễ bị hư hỏng, vì tâm lý chung của lứa tuổi là ham thích cái mới lạ và khả năng kiềm chế, kiểm soát hành vi chưa cao, hơn nữa kinh nghiệm sống còn hạn chế nên vẫn chưa phân biệt rạch ròi đúng/ sai, dễ bị lôi kéo, lợi dụng. Chúng ta phải thừa nhận là HS ở lứa tuổi này có thể sai lầm khi tự ĐG, nhưng vấn đề cơ bản là việc tự phân tích có mục đích là một đấu hiệu cần thiết của một nhân cách đang trưởng thành và là tiền đề của sự tự giáo dục có mục đích. Sự khám phá và phát triển bản thân với nội dung “Rèn luyện kỷ luật bản thân” cho Chủ đề 2 - Khám phá và phát triển bản thân (HĐTN, HN 10) Trong xu thế của sự phát triển và hội nhập, mỗi cá nhân HS cần trở nên khác biệt hơn và hiểu chính bản thân mình hơn để có thể hội nhập và phát triển tốt, đồng thời vẫn giữ được những giá trị cốt lõi và đặc thù riêng của mỗi cá nhân. Do đó, KN khám phá và phát triển bản thân luôn được xem là một trong những KN quan trọng của xã hội hiện nay.
Nội dung Chủ đề 2 – Khám phá và phát triển bản thân (HĐTN, HN 10) sẽ cung cấp cho HS các NL về kiến thức, KN và thái độ. Giúp HS hiểu rõ được bản thân hơn để học cách phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu. HS vận dụng được những hiểu biết về bản thân mình để hoạch định cuộc đời phù hợp với những tiềm năng thực sự của bản thân. Đồng thời, với nội dung “Rèn luyện kỷ luật bản thân” HS có được phương pháp thực hành các kiến thức trên nhằm khám phá và phát triển bản thân, biết cách giải quyết vấn đề của bản thân gặp phải để phát huy được thế mạnh và hạn chế những điểm yếu, xây dựng mục tiêu và biết cách điều chỉnh bản thân để hoàn thành các mục tiêu phát triển bản thân.
HS thấu cảm và chấp nhận sự khác biệt của người khác. Từ đó, HS có ý thức lên kế hoạch chiến lược và hành động biến những kiến thức, KN thành suy nghĩ, hành động, thói quen và tập quán hằng ngày trong cuộc sống vì mục đích phát triển bản thân và cộng đồng. Cơ sở thực tiễn của đề tài Để xác định cơ sở thực tiễn cho nghiên cứu về dạy học GQVĐ phát triển NL thích ứng với cuộc sống cho HS THPT trong HĐTN, HN nói chung và trong Chủ đề 2 – Khám phá và phát triển bản thân (HĐTN, HN 10) nói riêng, chúng tôi đã tiến hành điều tra, lấy ý kiến của 71 GV dạy bộ môn HĐTN, HN; cán bộ quản lí và 88 HS ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Nội dung cụ thể như sau: 3.
Thực trạng dạy học phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống cho học sinh THPT trong Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp Để tìm hiểu thực trạng dạy học phát triển NL thích ứng với cuộc sống cho HS THPT trong HĐTN, HN bằng PPDH GQVĐ, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến khảo sát bằng phiếu hỏi (Phụ lục 2.1) tạo trên Google form, gửi đường linh khảo sát cho GV. Linh lấy ý kiến khảo sát đối với GV: https://docs.com/forms/d/e/1FAIpQLSfwDZLDt2_X9tPwzb7oQw2_z LPtfz-wQ42jxNAi9DjEf5nHng/viewform?usp=sf_link Kết quả khảo sát được thể hiện trong các biểu đồ 1.3 dưới đây: Biểu đồ 1. Thực trạng GV dạy học HĐTN, HN phát triển NL cho HS Qua biểu đồ 1.1 cho thấy GV chưa thường xuyên hướng đẫn HS hình thành và phát triển các NL đặc thù của môn HĐTN, HN, trong đó có NL thích ứng với cuộc sống chiếm tỉ lệ: 1,27% thường xuyên; 47,89% thỉnh thoảng; 45,07% ít khi; 2,82% không thực hiện. Điều này có thể lí giải do một số GV chưa xác định được mục tiêu phát triển NL cho HS trong HĐTN, HN và chưa phân biệt rõ mục tiêu phát triển NL thích ứng với cuộc sống với các NL khác, dẫn tới HĐTN, HN chỉ manh tính định hướng phát triển các NL chung cho HS.
Bên cạnh đó, nhiều GV vẫn đang tập trung vào mục tiêu cung cấp các kiến thức về môi trường sống cho HS hơn là rèn luyện các KN, NL và hành vi cho các em. Thực trạng GV sử dụng các PPDH trong tổ chức HĐTN, HN Qua biểu đồ 1.2 cho thấy tỉ lệ GV sử dụng PPDH GQVĐ còn thấp: với 7,04% thường xuyên; 49,3% thỉnh thoảng; 49,3% ít khi; và có 4,23% GV chưa bao giờ sử dụng. Từ đó cho thấy việc sử dụng các PPDH tích cực trong HĐTN, HN nói chung và PPDH GQVĐ nói riêng còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học hiện nay. Thực trạng GV sử dụng các loại hình tổ chức HĐTN, HN Qua biểu đồ 1.3 cho thấy GV sử dụng loại hình HĐGDCĐ để tổ chức HĐTN, HN cho HS chiếm tỉ lệ cao: với 92,96% thường xuyên; 11,27% thỉnh thoảng; 5,63% ít khi.