đặt vấn đề, câu hỏi hoặc giao nhiệm vụ để HS về nhà suy nghĩ tìm lời giải đáp hoàn thành nhiệm vụ; KTBH bằng thực hiện các thí nghiệm. Với các phương pháp này HS không chỉ có điều kiện vận dụng các kiến thức Sinh học một cách linh hoạt mà còn vận dụng cả kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân vào việc GQVĐ và qua đó thể hiện những nét sáng tạo riêng của mỗi cá nhân. Một số vấn đề cần lưu ý khi tổ chức hoạt động kết thúc bài học. - Các bài tập, tình huống, trò chơi phải liên quan đến kiến thức của bài học.
- Hoạt động KTBH cần huy động những kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến nội dung bài học để tạo sự hứng thú và suy nghĩ tích cực cho người học. - Nhiệm vụ đặt ra nên gần gũi với đời sống mà HS dễ cảm nhận và đã có ít nhiều những hiểu biết ban đầu về chúng. 6 - Tạo điều kiện cho HS có thể huy động được kiến thức vừa học để giải quyết, qua đó giúp HS phát hiện vấn đề, kết nối được kiến thức thực tiễn để giải quyết vấn đề đã phát hiện. - Về thời gian: đây là khâu quan trọng để đảm bảo tiến trình giờ học.
Tùy vào nội dung bài học để GV định lượng thời gian. Đối với các bài dạy học theo chủ đề từ 2 tiết trở lên, GV có thể tổ chức hoạt động KTBH trong vòng 10 - 12 phút. Đối với bài học theo từng tiết, GV nên tổ chức hoạt động KTBH 5 - 7 phút. Đối với các sản phẩm học tập như mô hình, sản phẩm thực hành, sản phẩm áp dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn GV có thể hướng dẫn HS thực hiện ở nhà thời gian trước đó và HS sẽ mang sản phẩm lên trình bày thời gian tổ chức hoạt động KTBH.
CƠ SỞ THỰC TIỄN. Một số thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài. Thuận lợi Trường THPT chúng tôi công tác đóng trên địa bàn của một huyện miền núi có đội ngũ giáo viên đa số có kinh nghiệm dạy học nên nhiệt tình trong công tác giáo dục và giảng dạy học sinh. Năm học 2020-2021, nhà trường tạo điều kiện lắp thêm ti vi có kết nối mạng intenet cho tất cả các phòng học, trường có 3 phòng thực hành Lý, Hóa và Sinh với đầy đủ dụng cụ thực hành thí nghiệm tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học.
Sở Giáo dục bắt nhận kịp thời những chuyển biến mới nhất từ Bộ. Đội ngũ giáo viên của tỉnh nhà được tham gia học tập bồi dưỡng các Module đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo chương trình giáo dục 2018. Giáo viên có điều kiện vận dụng phương pháp được tập huấn theo chương trình Etep vào giảng dạy. Học sinh cấp ba mang tâm lí lứa tuổi mới lớn nên rất tích cực ủng hộ cái mới; đặc biệt là việc đổi mới phương pháp dạy học.
Các em rất yêu mến, ngưỡng mộ những thầy cô luôn đổi mới phương pháp. Đa số học sinh tích cực tham gia hoạt động, nhất là học sinh đầu cấp. Trong điều kiện phát triển các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, HS đã được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trước đây mấy chục năm. Ngoài khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hóa ngày càng được phát triển, HS không thích chấp nhận một cách đơn giản những áp đặt của GV.
Các em thích tranh luận, bày tỏ những ý kiến riêng biệt của cá nhân mình về những vấn đề lí thuyết và thực tiễn. Đây là những thuận lợi cơ bản trong việc đổi mới PPDH nói chung và đổi mới trong hoạt động KTBH nói riêng. 7 Hiện nay việc lĩnh hội tri thức của HS chỉ có thể hiệu quả khi GV biết tổ chức quá trình dạy học tích cực với HS có vai trò là trung tâm, GV chỉ là người điều khiển, hướng dẫn HS lĩnh hội tri thức thông qua các hoạt động học tập. Học sinh phải tích cực hoạt động tư duy một cách độc lập, có sáng tạo.
Khó khăn Trường THPT tại địa bàn chúng tôi công tác nhiều học sinh con em nông thôn dân tộc, vùng cao, chất lượng đầu vào còn thấp. Ý thức học tập của một bộ phận học sinh chưa cao. Còn một bộ phận phụ huynh do công việc mưu sinh nên chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình. Đặc biệt, trong những năm gần đây, xu thế định hướng nghề nghiệp của HS đã thay đổi.
Đa số HS xác định học hết cấp ba rồi đi xuất khẩu hoặc đi học nghề, số lượng HS lựa chọn học đại học và cao đẳng rất ít, nên việc đầu tư trong học tập ít hơn, HS lười học hơn. Môn sinh học đối với các lớp chọn ban Xã hội chỉ là môn học phụ; học sinh thường có tâm lí coi nhẹ môn Sinh. Kiến thức và kỹ năng thực hành của đối tượng học sinh các lớp này thường hạn chế. Chương trình Sách giáo khoa nội dung còn nặng về kiến thức, thời lượng để cung ứng cho học sinh không đủ… Một số GV lớn tuổi nên hạn chế về sức khỏe và sử dụng công nghệ thông tin.
Với nội dung SGK mới, nên GV đang mải dành thời gian nghiên cứu nội dung bài học, cũng như các phương pháp tổ chức hoạt động tìm hiểu kiến thức nên với hoạt động KTBH vẫn chưa thực sự được nhiều GV quan tâm và dành nhiều thời gian cho nó. Thực trạng của việc đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động kết thúc bài học của giáo viên hiện nay. Để tiến hành tìm hiểu về thực trạng sử dụng phương pháp KTBH theo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học ở trường THPT, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điều tra đối với GV tại trường mà chúng tôi đang trực tiếp giảng dạy. - Nội dung khảo sát: Việc GV sử dụng các phương pháp KTBH theo hướng phát triển năng lực HS trong quá trình dạy học.
- Đối tượng khảo sát: 35 GV của trường THPT Anh Sơn 3. - Hình thức khảo sát: Phiếu khảo sát trên Google form.com/forms/d/1Vl88e 2Uu0s04p_yH8QcSLbUsZW04QoNfpMSBOnW-ms/edit Sau khi thu thập, tổng hợp qua phiếu điều tra, kết quả được thể hiện ở bảng sau: 8 Bảng 2. Kết quả điều tra thực trạng sử dụng phương pháp KTBH ở trường THPT Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Tiêu chí khảo sát Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ TT lượng (%) lượng (%) lượng (%) GV sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong 1 phần khởi động và 24 68,6 9 25,7 2 5,7 hình thành kiến thức. GV KTBH theo kiểu truyền thống (hệ thống lại kiến 2 thức đã học, làm 1 số bài tập đơn giản, 29 82,9 6 17,1 0 0 ra bài tập về nhà.
GV sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong phần KTBH (tổ 3 chức trò chơi, làm 0 0 10 28,57 25 71,43 mô hình, làm thí nghiệm, sử dụng SĐTD.) Từ số liệu thu thập được ở trên giúp chúng ta thấy: - Ở tiêu chí “GV sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong phần khởi động và hình thành kiến thức”: Với tâm thế chuẩn bị tốt cho việc giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông 2018 nên đa số GV đã rất quan tâm tới đổi mới phương pháp dạy học. Các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực được GV dùng nhiều trong hoạt động khởi động và hình thành kiến thức của mỗi bài. - Ở tiêu chí “GV KTBH theo kiểu truyền thống”: có tới 82,9% GV thường hệ thống lại kiến thức trọng tâm, ra BTVN hoặc dặn dò khi KTBH. Nguyên nhân có thể là do cuối bài nên không có đủ thời gian, hoặc chưa nhận thức được tầm quan trọng của KTBH mà làm hời hợt hay bỏ qua bước này.
- Ở tiêu chí “GV tổ chức KTBH bằng những biện pháp tích cực nhằm phát triển năng lực cho HS”: chỉ có rất ít GV chú ý đến đổi mới KTBH bằng cách tổ chức một vài hoạt động vui nhộn cuối giờ. Mặc dù chưa phong phú, đa dạng nhưng đã để lại ấn tượng tốt trong HS về bài học, tạo hứng khởi để bắt đầu các tiết học sau. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KẾT THÚC BÀI HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN SINH HỌC THPT 1. KTBH bằng tổ chức trò chơi.
Tổng quan về phương pháp KTBH bằng tổ chức trò chơi Phương pháp dạy học tích cực trò chơi là phương pháp GV thông qua việc tổ chức các trò chơi liên quan đến nội dung bài học, có tác dụng phát huy tính tích cực nhận thức, gây hứng thú học tập cho HS. Qua trò chơi, HS tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, đồng thời phát triển tính tự giác, tự chủ của HS. Sử dụng hoạt động trò chơi trong KTBH, chỉ cần tập trung nhấn mạnh một số thông tin quan trọng trong bài để đảm bảo thời gian mà vẫn tạo được sự hứng thú và phát huy năng lực tư duy tìm tòi, sáng tạo của người học. Phương pháp trò chơi có một số ưu điểm và nhược điểm sau: * Ưu điểm: + Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn HS do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học; giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới; + Học qua trò chơi giúp HS tiếp thu bài học một cách tự nhiên, chủ động nhất so với khả năng có thể của bản thân; quá trình học tập, ghi nhớ nội dung bài học sẽ dễ dàng và sâu sắc, cụ thể hơn so với cách học thông thường; + Trò chơi giúp HS có được tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, có sự nhạy bén trong hoạt động học tập; tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng giao tiếp - hợp tác cho HS.
* Nhược điểm: + HS có thể dễ bị sa đà vào trò chơi, ít tập trung vào mục đích học tập; + GV có thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát thời gian và nội dung kiến thức cần được truyền tải. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp trò chơi: - Mục đích của trò chơi phải thể hiện mục tiêu của bài học hoặc một phần của nội dung bài học. - Hình thức chơi đa dạng giúp HS được thay đổi các hoạt động học tập trên lớp, giúp HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động. - Luật chơi đơn giản để HS dễ nhớ, dễ thực hiện.