Kỹ Năng Toán 10: Phát Triển Năng Lực Học Sinh - Sáng Kiến Kinh Nghiệm

SKKN cấp tỉnh: Kỹ năng cho học sinh lớp 10 qua chương VIII Toán (Kết nối tri thức). Phát triển năng lực người học, bồi dưỡng kiến thức toán học.

Trường đại học

Trường THPT Nghi Lộc III

Chuyên ngành

Toán Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sáng kiến kinh nghiệm

2023 - 2024

55
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

I. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I.1. Lý do chọn đề tài

I.2. Đối tượng nghiên cứu:

I.3. Phương pháp nghiên cứu

I.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

I.5. Phạm vi nghiên cứu

I.6. Dự báo xu hướng đóng góp mới của đề tài

II. PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

II.1. Cở sở lí luận và thực tiễn

II.1.1. Khái niệm về kỹ năng

II.1.2. Vai trò của kỹ năng

II.1.3. Sự hình thành kỹ năng

II.1.4. Phân loại kỹ năng trong môn toán:

II.1.5. Mối quan hệ giữa tư duy và kỹ năng

II.2. Về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học toán

II.3. Thực trạng về việc dạy và học chương 8 toán 10 sách kết nối tri thức của học sinh THPT

II.4. Rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng cần thiết trong dạy học chương 8 Toán 10, sách kết nối Tri Thức

II.4.1. Thực trạng về việc dạy và học chương 8 Toán 10 sách kết nối Tri Thức trường THPT

II.4.2. Về giáo viên

II.4.3. Về học sinh

II.4.4. Rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng trong dạy học chương 8 Toán 10 sách kết nối Tri Thức

II.4.4.1. Kỹ năng 1: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng suy diễn (suy luận diễn dịch) và khai thác triệt để các tình huống có thể rèn luyện cho học sinh kỹ năng này (bằng kỹ năng rút ra hệ quả lôgic từ những tiền đề đã cho).
II.4.4.2. Kỹ năng 2: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng mò mẫn, dự đoán, kết hợp hữu cơ giữa dự đoán và suy diễn trong quá trình giải quyết vấn đề.
II.4.4.3. Kỹ năng 3: Kỹ năng phân chia trường hợp riêng trong quá trình giải toán
II.4.4.4. Kỹ năng 4: Kỹ năng sử dụng sơ đồ hình cây.
II.4.4.5. Kỹ năng 5: Kỹ năng sử dụng phần mềm Tarsia tạo mảnh ghép trong hoạt động nhóm trong dạy học chương VIII, Toán 10 sách kết nối tri thức.
II.4.4.6. Kỹ năng 6: Kỹ năng toán học hoá các tình hống thực tiễn.
II.4.4.7. Kỹ năng 7: Rèn luyện cho học sinh biết vận dụng các thao tác khái quát hoá, đặc biệt hoá, tương tự
II.4.4.8. Kỹ năng 8: Tập luyện cho học sinh diễn đạt một số định nghĩa, định lý, bài tập theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt biết hướng tới cách diễn đạt có lợi cho vấn đề cần giải quyết

II.5. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

II.5.1. Mục đích thực nghiệm

II.5.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm:

II.5.2.1. Tổ chức thực nghiệm:
II.5.2.2. Nội dung thực nghiệm:

II.5.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm

II.5.3.1. Đánh giá định tính
II.5.3.2. Đánh giá định lượng

II.5.4. Kết luận về thực nghiệm

II.6. KHẢO SÁT SỰ CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA

II.7. CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

II.7.1. Mục đích khảo sát:

II.7.2. Nội dung khảo sát và phương pháp khảo sát.

II.7.2.1. Nội dung khảo sát
II.7.2.2. Phương pháp khảo sát và thang điểm
II.7.2.3. Đối tượng khảo sát:

II.7.3. Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất.

II.7.3.1. Sự cấp thiết của các giải pháp đã đề xuất
II.7.3.2. Tính khả thi của các giải pháp đã được đề xuất

III. PHẦN III: KẾT LUẬN

III.1. Những kết luận trong quá trình nghiên cứu, triển khai sáng kiến kinh nghiệm

III.2. Những kiến nghị, đề xuất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Kỹ Năng Toán 10 Nền tảng phát triển năng lực học sinh

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng, từ việc tập trung truyền thụ kiến thức sang định hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho người học. Trong bối cảnh đó, môn Toán lớp 10 không chỉ là những con số và công thức, mà là công cụ sắc bén để rèn luyện các kỹ năng toán học cốt lõi. Việc trang bị kỹ năng Toán 10 không chỉ giúp học sinh giải quyết các bài tập vận dụng cao toán 10 mà còn xây dựng nền tảng vững chắc cho tư duy logic toán họcnăng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là điểm số, mà là hình thành con người có khả năng tự chủ, tự học, và sáng tạo. Theo Sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) của Nguyễn Thị Minh và Nguyễn Thị Ngoan (Trường THPT Nghi Lộc 3), việc dạy học cần tích cực rèn luyện và phát triển kỹ năng, giúp học sinh tự chiếm lĩnh tri thức. Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng với Toán 10 chương trình mới, nơi các chủ đề như thống kê và xác suất lớp 10 hay mô hình hóa toán học đòi hỏi khả năng vận dụng cao. Bài viết này sẽ phân tích sâu các phương pháp hiệu quả để phát triển năng lực học sinh thông qua môn Toán 10, dựa trên những nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm cụ thể.

1.1. Yêu cầu của chương trình Toán 10 chương trình mới

Chương trình Toán 10 chương trình mới đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực chuyên môn. Thay vì ghi nhớ máy móc, học sinh cần hiểu bản chất, biết cách lập luận và trình bày. Các năng lực cốt lõi bao gồm: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình hóa, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp và năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Ví dụ, trong chương Đại số tổ hợp, học sinh không chỉ học công thức tính chỉnh hợp, tổ hợp mà còn phải biết khi nào dùng quy tắc cộng, khi nào dùng quy tắc nhân, và vận dụng vào các bài toán thực tế. SKKN nhấn mạnh, chương trình mới chứa đựng nhiều tiềm năng để khai thác và rèn luyện kỹ năng, nhưng đòi hỏi sự đổi mới trong phương pháp dạy và học.

1.2. Mối quan hệ mật thiết giữa tư duy và kỹ năng Toán học

Kỹ năng và tư duy có mối liên hệ hai chiều không thể tách rời. SKKN chỉ rõ: “Kỹ năng là cơ sở để tiến hành các thao tác tư duy và kỹ năng chỉ được hình thành thông qua quá trình tư duy để giải quyết nhiệm vụ đặt ra”. Điều này có nghĩa là, để có kỹ năng trình bày lời giải mạch lạc, học sinh phải có tư duy logic toán học vững vàng. Ngược lại, việc luyện tập thường xuyên các kỹ năng như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa sẽ mài giũa tư duy trở nên sắc bén hơn. Do đó, một phương pháp học toán 10 hiệu quả phải là sự kết hợp song song giữa việc củng cố kiến thức nền tảng và rèn luyện kỹ năng thực hành thông qua các dạng bài tập đa dạng.

II. Thách thức lớn trong việc rèn luyện kỹ năng Toán 10 hiện nay

Mặc dù mục tiêu phát triển năng lực đã được xác định rõ, thực tiễn dạy và học Toán 10 vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Chất lượng học tập không đồng đều, một bộ phận không nhỏ học sinh gặp khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức, đặc biệt là các chương khó như vector trong không gian hay hệ thức lượng trong tam giác. SKKN tại trường THPT Nghi Lộc 3 chỉ ra rằng, nhiều học sinh lúng túng khi giải bài tập vì thiếu định hướng và kỹ năng lập luận. Các em thường ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, dẫn đến việc vận dụng sai hoặc không linh hoạt. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả các đề thi toán 10 mà còn làm giảm hứng thú học tập. Một trong những nguyên nhân chính là phương pháp giảng dạy một chiều, chưa chú trọng đúng mức vào việc phân tích các lỗi sai và rèn luyện từng kỹ năng cụ thể cho học sinh. Việc nhận diện và khắc phục những khó khăn này là bước đi tiên quyết để tìm ra cách học giỏi toán lớp 10 một cách bền vững.

2.1. Phân tích các sai lầm phổ biến khi giải bài tập tổ hợp

SKKN đã tổng hợp nhiều sai lầm điển hình mà học sinh gặp phải trong chương Đại số tổ hợp. Một lỗi phổ biến là nhầm lẫn giữa khái niệm tổ hợp và chỉnh hợp. Học sinh thường áp dụng sai công thức khi bài toán yêu cầu có sự sắp xếp thứ tự hoặc không. Ví dụ, khi chọn 3 học sinh từ một nhóm 10 người để ghép thành 3 cặp nhảy, nhiều em chỉ tính số cách chọn (tổ hợp) mà quên mất bước hoán vị để ghép cặp. Một sai lầm khác là phân chia thiếu trường hợp khi giải toán, đặc biệt với các bài toán có điều kiện phức tạp như “chọn 10 câu hỏi có đủ 3 loại dễ, trung bình, khó”. Việc không nắm vững kỹ năng phân chia trường hợp dẫn đến kết quả sai lệch. Những lỗi này cho thấy sự “mất gốc” về khái niệm và sự yếu kém trong năng lực giải quyết vấn đề.

2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp dạy học truyền thụ một chiều, nơi giáo viên chỉ giảng và học sinh ghi chép, không còn phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực. SKKN chỉ ra thực trạng: “một số giáo viên còn chủ quan trong việc dạy học các kĩ năng cho học sinh như dạy một cách qua loa, không khắc sâu”. Điều này dẫn đến việc học sinh chỉ vận dụng kiến thức một cách rập khuôn, thiếu khả năng rèn luyện tư duy phản biện và sáng tạo. Bên cạnh đó, các bài tập trong sách giáo khoa đôi khi còn hạn chế về nội dung thực tế, làm giảm cơ hội để học sinh thực hành kỹ năng toán học hóa các tình huống thực tiễn. Để khắc phục, cần một sự chuyển đổi mạnh mẽ sang các phương pháp dạy học tích cực, hoạt động hóa người học, chẳng hạn như dạy học giải quyết vấn đề.

III. Hướng dẫn phát triển tư duy logic và kỹ năng suy diễn Toán

Để vượt qua các thách thức, việc trang bị cho học sinh các kỹ năng tư duy nền tảng là cực kỳ quan trọng. Đây không phải là việc học thuộc lòng mà là quá trình rèn luyện phương pháp tiếp cận và xử lý vấn đề một cách có hệ thống. SKKN đề xuất 8 kỹ năng cốt lõi, trong đó nhóm kỹ năng về tư duy và suy luận là nền móng. Kỹ năng suy diễn logic giúp học sinh rút ra hệ quả từ những tiền đề đã cho, ví dụ như từ định nghĩa chỉnh hợp suy ra mối liên hệ với tổ hợp. Bên cạnh đó, kỹ năng mò mẫn, dự đoán khuyến khích học sinh không sợ sai, dám thử và kiểm tra các giả thuyết. Chẳng hạn, khi xây dựng công thức Nhị thức Newton, việc khai triển (a+b)², (a+b)³ trước để tìm ra quy luật là một bước dự đoán quan trọng. Việc kết hợp giữa dự đoán và suy diễn chặt chẽ tạo nên một quy trình giải quyết vấn đề hiệu quả, giúp học sinh tự tin chinh phục các bài toán về hàm số và đồ thị hay phương trình và hệ phương trình.

3.1. Rèn luyện kỹ năng suy luận diễn dịch và mò mẫn dự đoán

Suy luận diễn dịch là kỹ năng đi từ cái chung đến cái riêng. Trong Toán học, đây là kỹ năng vận dụng định lý, định nghĩa vào giải quyết bài tập cụ thể. Để rèn luyện, giáo viên cần tạo cơ hội cho học sinh tự mình rút ra các hệ quả logic. Ví dụ, sau khi học định lí về số tổ hợp, học sinh có thể được yêu cầu chứng minh công thức C(n, k) = C(n, n-k) bằng lập luận logic thay vì chỉ biến đổi đại số. Song song đó, kỹ năng mò mẫn, dự đoán là bước khởi đầu cho sự sáng tạo. Giáo viên có thể đưa ra các nhiệm vụ theo từng bước nhỏ, dẫn dắt học sinh tự khám phá ra kiến thức mới, như cách SKKN mô tả việc tiếp cận định lý số các chỉnh hợp thông qua bài toán phân công trực nhật.

3.2. Vận dụng kỹ năng phân chia trường hợp và khái quát hóa

Phân chia trường hợp là một kỹ năng tối quan trọng trong giải toán, đặc biệt là các bài toán tổ hợp và bất đẳng thức. SKKN nhấn mạnh rằng việc phân chia phải dựa trên một tiêu chí rõ ràng và không được bỏ sót hay trùng lặp. Ví dụ, với bài toán “chọn 4 quả cầu có nhiều nhất 2 quả xanh”, học sinh cần được hướng dẫn để chia thành các trường hợp: 0 quả xanh, 1 quả xanh, và 2 quả xanh. Sau khi giải quyết các trường hợp riêng, kỹ năng khái quát hóa giúp học sinh nhìn thấy quy luật chung. Từ việc giải các bài toán cụ thể, các em có thể tự rút ra phương pháp tổng quát cho một dạng toán, giúp hệ thống hóa kiến thức và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề.

IV. Top phương pháp trực quan hóa và ứng dụng kỹ năng Toán 10

Bên cạnh kỹ năng tư duy trừu tượng, việc sử dụng các công cụ trực quan và kết nối với thực tiễn giúp môn Toán trở nên sinh động và dễ tiếp cận hơn. Đây là một phương pháp học toán 10 hiệu quả, đặc biệt với những học sinh có thiên hướng học tập qua hình ảnh. SKKN đã đề xuất nhiều giải pháp sáng tạo để biến những khái niệm khô khan thành các hoạt động hấp dẫn. Kỹ năng sử dụng sơ đồ hình cây là một ví dụ điển hình. Sơ đồ này giúp minh họa rõ ràng quy tắc cộng và quy tắc nhân, giúp học sinh tránh nhầm lẫn khi giải các bài toán đếm. Hơn nữa, việc ứng dụng công nghệ như phần mềm Tarsia để tạo trò chơi mảnh ghép trong hoạt động nhóm không chỉ giúp củng cố kiến thức về đại số 10hình học 10 mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhóm. Quan trọng nhất, việc rèn luyện kỹ năng toán học hóa các tình huống thực tiễn giúp học sinh thấy được giá trị ứng dụng của Toán học, từ đó tạo động lực và hứng thú học tập.

4.1. Kỹ năng sử dụng sơ đồ tư duy toán 10 và công cụ hỗ trợ

Sơ đồ là công cụ mạnh mẽ để hệ thống hóa kiến thức. SKKN minh họa rất rõ cách dùng sơ đồ hình cây để phân tích các bước trong một công việc, giúp học sinh lựa chọn đúng quy tắc đếm. Tương tự, sơ đồ tư duy toán 10 có thể được dùng để tóm tắt kiến thức của một chương, ví dụ như chương hệ thức lượng trong tam giác, giúp học sinh dễ dàng ôn tập toán 10 học kì 1. Ngoài ra, việc sử dụng phần mềm Tarsia trong tiết luyện tập, như mô tả trong SKKN, là một sáng kiến tuyệt vời. Hoạt động ghép các mảnh chứa câu hỏi và đáp án đúng buộc mỗi thành viên trong nhóm phải làm việc và phối hợp, biến giờ học thành một trò chơi trí tuệ đầy hứng khởi.

4.2. Cách thức toán học hóa và diễn đạt vấn đề theo nhiều cách

Một trong những năng lực quan trọng nhất của Toán 10 chương trình mớimô hình hóa toán học. Kỹ năng này yêu cầu học sinh chuyển một bài toán từ thực tế (xếp chỗ, tạo mật khẩu, tổ chức sự kiện) thành ngôn ngữ toán học. SKKN gợi ý cách tiếp cận tự nhiên bằng việc đưa ra các tình huống gần gũi, như bài toán chụp ảnh kỷ yếu để dẫn dắt vào quy tắc đếm. Bên cạnh đó, kỹ năng diễn đạt một định nghĩa, bài tập theo nhiều cách khác nhau giúp học sinh hiểu sâu hơn bản chất vấn đề. Ví dụ, “tìm số tổ hợp chập k của n” có thể được diễn đạt lại là “tìm số tập con gồm k phần tử của một tập hợp có n phần tử”. Cách diễn đạt này giúp học sinh chọn được hướng giải quyết có lợi nhất.

V. Kết quả thực nghiệm Nâng cao kỹ năng Toán 10 hiệu quả

Lý thuyết phải luôn đi đôi với thực tiễn. Hiệu quả của các phương pháp đề xuất đã được kiểm chứng thông qua thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Nghi Lộc 3, được ghi nhận chi tiết trong SKKN. Nghiên cứu tiến hành trên hai lớp tương đương về trình độ là lớp thực nghiệm (10A2) và lớp đối chứng (10A1). Lớp thực nghiệm được giảng dạy theo định hướng rèn luyện 8 kỹ năng đã phân tích, trong khi lớp đối chứng học theo phương pháp thông thường. Kết quả sau một thời gian áp dụng cho thấy sự khác biệt rõ rệt về cả định tính và định lượng. Học sinh ở lớp thực nghiệm không chỉ đạt điểm số cao hơn trong bài kiểm tra mà còn thể hiện sự chủ động, tự tin và hứng thú hơn trong việc học. Điều này khẳng định rằng, việc tập trung vào phát triển năng lực học sinh thông qua rèn luyện kỹ năng Toán 10 là một hướng đi đúng đắn và mang lại hiệu quả vượt trội, giúp các em nắm vững kiến thức từ đại số 10 đến hình học 10.

5.1. Đánh giá định lượng qua kết quả bài kiểm tra thực nghiệm

Các con số không biết nói dối. Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra trong SKKN cho thấy một bức tranh thuyết phục. Tỷ lệ đạt yêu cầu của lớp thực nghiệm là 88,1%, trong khi lớp đối chứng chỉ là 28,6%. Đáng chú ý, tỷ lệ điểm khá và giỏi của lớp thực nghiệm lần lượt là 30,9% và 33,4%, còn lớp đối chứng chỉ đạt 2,4% và 0%. Ngược lại, tỷ lệ điểm kém (dưới 5) ở lớp thực nghiệm chỉ là 11,9% so với con số đáng báo động 71,4% ở lớp đối chứng. Kết quả này chứng minh rằng việc áp dụng các kỹ năng như phân chia trường hợp, sử dụng sơ đồ hình cây hay mò mẫn, dự đoán đã giúp học sinh cải thiện đáng kể năng lực giải quyết vấn đề và đạt kết quả học tập tốt hơn.

5.2. Phân tích định tính và khảo sát tính khả thi của giải pháp

Về mặt định tính, SKKN ghi nhận những thay đổi tích cực trong thái độ học tập. Học sinh lớp thực nghiệm đã bắt đầu ham thích những dạng toán mà trước đây họ rất “ngại”. Các em đã hình thành được một “phong cách” tư duy khác, chủ động hơn trong việc phân tích và tìm tòi lời giải. Thêm vào đó, kết quả khảo sát 145 đối tượng (gồm giáo viên và học sinh) cũng khẳng định tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp. Cả 8 kỹ năng được đề xuất đều được đánh giá là “rất cấp thiết” và “rất khả thi”, với điểm trung bình X từ 3.4 đến 3.73 trên thang điểm 4. Điều này cho thấy các phương pháp không chỉ hiệu quả trên lý thuyết mà còn hoàn toàn có thể áp dụng rộng rãi trong thực tế giảng dạy.

VI. Kết luận và định hướng phát triển năng lực Toán 10 bền vững

Sáng kiến kinh nghiệm về việc hình thành và phát triển kỹ năng Toán 10 đã cung cấp một bộ giải pháp toàn diện và đã được chứng minh hiệu quả. Việc dạy học không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt công thức của hàm số và đồ thị hay phương trình và hệ phương trình, mà phải là quá trình kiến tạo tri thức và rèn luyện năng lực. Kết quả nghiên cứu khẳng định, khi học sinh được trang bị các kỹ năng nền tảng như suy diễn, dự đoán, phân chia trường hợp, và mô hình hóa, các em không chỉ giải toán tốt hơn mà còn phát triển được tư duy logic toán học và sự sáng tạo. Đây chính là mục tiêu cuối cùng của giáo dục hiện đại. Để nhân rộng mô hình thành công này, cần có sự đồng bộ từ phía nhà trường trong việc khuyến khích đổi mới phương pháp giảng dạy, và sự nỗ lực của mỗi giáo viên trong việc thiết kế các hoạt động học tập tích cực. Phát triển năng lực học sinh là một hành trình dài, và việc trang bị những kỹ năng này chính là hành trang vững chắc nhất.

6.1. Tổng kết các kỹ năng trọng tâm cần ưu tiên phát triển

Dựa trên phân tích và kết quả thực nghiệm, có thể tổng kết các nhóm kỹ năng trọng tâm cần được ưu tiên. Thứ nhất là nhóm kỹ năng tư duy nền tảng, bao gồm suy diễn logic, dự đoán, và phân chia trường hợp. Đây là bộ khung giúp học sinh tiếp cận mọi bài toán một cách có phương pháp. Thứ hai là nhóm kỹ năng thực hành và ứng dụng, gồm mô hình hóa toán học, sử dụng sơ đồ tư duy toán 10, và các công cụ trực quan. Nhóm này giúp kết nối Toán học với thực tiễn, tạo hứng thú cho người học. Cuối cùng là kỹ năng meta-cognitive (tư duy về tư duy), thể hiện qua việc diễn đạt vấn đề theo nhiều cáchkhái quát hóa bài toán, giúp học sinh làm chủ quá trình học tập của mình.

6.2. Kiến nghị về đổi mới phương pháp dạy và học môn Toán

Để việc phát triển năng lực học sinh trở thành hiện thực, SKKN đề xuất một số kiến nghị quan trọng. Các nhà trường cần tạo điều kiện, khuyến khích giáo viên đầu tư nghiên cứu và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Các tổ chuyên môn nên thường xuyên tổ chức sinh hoạt, chia sẻ kinh nghiệm về việc thiết kế các hoạt động rèn luyện kỹ năng. Đối với giáo viên, cần chủ động thay đổi vai trò từ người truyền thụ sang người tổ chức, hướng dẫn, tạo ra môi trường học tập nơi học sinh được tự do khám phá và sáng tạo. Việc đầu tư vào các công cụ hỗ trợ như phần mềm, học liệu trực quan cũng là một yếu tố cần thiết để nâng cao hiệu quả giảng dạy Toán 10 chương trình mới.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài Trong nhiều năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn không ngừng quan tâm đến công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện cả về đức, trí, thể, mĩ nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn lao động ngày càng cao của trong nước và thế giới. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất là yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Ngoài ra, chương trình cũng hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi gồm: Những năng lực chung, được hình thành và phát triển từ tất cả các môn học và hoạt động giáo dục; Những năng lực chuyên môn, được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định.

Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau. Một trong các năng lực chung quan trọng được nhà trường và giáo viên quan tâm, giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông đó là năng lực Tự chủ và tự học. Trong suốt quá trình đổi mới khi đưa ra những điều chỉnh về nội dung dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra yêu cầu: “Chủ động rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm vụ học tập đặt ra trong bài học.

Ngày nay, sự sáng tạo mới tri thức đòi h i m i một con người phải tự học, tự đào tạo và có năng lực tự học tự sáng tạo. Để thực hiện được yêu cầu này đòi h i nhà trường phổ thông phải góp phần đắc lực vào việc chuẩn bị nền tảng vững chắc cho sự ra đời của những thế hệ nhân tài kiểu mới có ý thức, năng lực sáng tạo, vốn tri thức cần thiết cộng với khả năng xử lý thông tin để tiếp thu những cái mới. Nhưng nhà trường d tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng nhu cầu phong phú và đa dạng trong cuộc sống của người học. Do đó, chỉ có thông qua tự học mới phát triển được tư duy sáng tạo, mới mang lại sự đa dạng kiến thức đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

Vì vậy, trong dạy học cần tích cực rèn luyện và phát triển kỹ năng cho học sinh, qua đó phát triển tư duy sáng tạo nhằm giúp các em tự chiếm lĩnh tri thức một cách hiệu quả và xa hơn là nhằm đào tạo nên những con người mới: chủ động, sáng tạo, ph hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật như hiện nay. 1 Chương VIII, Toán 10, sách Kết nối tri thức là một trong những nội dung toán học chứa đựng nhiều tiềm năng có thể khai thác để rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng, chẳng hạn chủ đề chỉnh hợp, tổ hợp thích hợp với kỹ năng phân chia trường hợp riêng, với việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng toán học hoá các tình huống thực tiễn, … Tuy nhiên, qua quan sát thực tiễn sư phạm cho thấy việc rèn luyện một số kỹ năng cho học sinh trong dạy học chương VIII, Toán 10 chưa được chú trọng, còn hời hợt. Điều này được thể hiện ở những khó khăn sai lầm học sinh thường gặp và phương pháp dạy học hiện nay. Như vậy có thể khẳng định rằng cần thiết phải rèn luyện cho học sinh các kỹ năng trong dạy học Toán.

Vì những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của sáng kiến là: “Một số kỹ năng cần hình thành và phát triển cho học sinh thông qua dạy học chương VIII sách Toán 10, sách Kết nối tri thức theo dạy học phát triển năng lực của người học”. Đối tƣợng nghiên cứu: Học sinh trung học phổ thông. Phƣơng pháp nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu.

Sáng kiến kinh nghiệm có nhiệm vụ trả lời các câu h i khoa học sau đây: 1. Khái niệm kỹ năng, dạy học theo năng lực. Các sai lầm thường gặp của học sinh trong dạy học chương VIII Toán 10, sách Kết nối tri thức. Rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng trong dạy học chương VIII Toán 10, sách Kết nối tri thức.

Kết quả thực nghiệm. Phạm vi nghiên cứu. Dự báo xu hƣớng đóng góp mới của đề tài Góp phần làm sáng t cơ sở lý luận của dạy học theo dạy học phát triển năng lực của người học trong dạy học chương VIII Toán 10, sách Kết nối tri thức. 2 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I.

Cở sở lí luận và thực tiễn 1. Khái niệm về kỹ năng Thực tiễn cuộc sống luôn đặt ra những nhiệm vụ nhận thức và thực hành nhất định cho con người. Để giải quyết được công việc con người cần sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm của mình nhằm tách ra những mặt của hiện thực là bản chất đối với nhiệm vụ của được đặt ra và nó thực hiện những biến đổi có thể dẫn tới ch giải quyết được nhiệm vụ đó. Với quá trình đó con người dần dần hình thành cho mình một hệ thống các kỹ năng để giải quyết các vấn đề.

Trong tài liệu tâm lý giáo dục, đã nêu lên một số quan điểm về khái niệm kỹ năng như sau: Quan điểm 1 cho rằng: Kỹ năng là sự nắm vững những có ý thức các phương thức hoạt động. Quan điểm 2 cho rằng: Sự sử dụng kiến thức và kỹ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện các phương thức hành động ph hợp với mục đích đặt ra. Theo giáo trình tâm lý học đại cương thì: “Kỹ năng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định” Có thể chỉ ra một số cách định nghĩa khác về kỹ năng, chẳng hạn: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” hoặc “Kỹ ăng là sự lựa chọn trong tình huống cụ thể các phương thức đúng đắn của hành động để đạt được mục đích”. Các định nghĩa trên tuy không giống nhau về mặt từ ngữ nhưng tựu trung lại thì đều nói rằng kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp, …) để giải quyết một nhiệm vụ mới.

Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết. Cơ sở lý thuyết đó là kiến thức. Sở dĩ như vậy là vì xuất phát từ cấu trúc kỹ năng (phải hiểu mục đích, biết cách thức đi đến két quả và hiểu được những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó). Trong thực tế dạy học, học sinh thường gặp khó khăn khi vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các bài tập cụ thể chính là do kiến thức không chắc chắn, khái niệm trở nên chết cứng và không biến thành cơ sở của kỹ năng Muốn kiến thức là cơ sở của kỹ năng thì kiến thức đó phải phản ánh đầy đủ thuộc tính của bản chất, được thử thách trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với 3 tư cách là công cụ của hành động (kỹ năng).

Nói cách khác, cần làm sao cho các sự vật quả thực là có những thuộc tính được phản ánh trong tri thức đã cho, làm sao cho các dấu hiệu là bản chất đối với những mục tiêu đặt ra trước hành động, làm sao cho những hành động này đảm bảo biến đổi đối tượng, một sự biến đổi cần thiết để đạt mục tiêu. Những thuộc tính được phản ánh trong tri thức là: có chứa tham số, phương trình tr ng phương. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng: Sự dễ dàng hay khó khăn trong sự vận dụng kiến thức là tuỳ thuộc ở khả năng nhận dạng kiểu nhiệm vụ, bài tập tức là tìm kiếm và phát hiện những thuộc tính và quan hệ vốn có trong nhiệm vụ hay bài tập để thực hiện một mục đích nhất định. Vai trò của kỹ năng C ng với vai trò của cơ sở tri thức, cần thấy rõ tầm quan trọng của kỹ năng, sự nhấn mạnh này đặc biệt cần thiết đối với các môn Toán, vì môn này được coi là một môn học công cụ do đặc điểm và vị trí của nó trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển nhân cách học sinh trong nhà trường phổ thông, vì vậy cần hướng hướng mạnh vào việc vận dụng tri thức và rèn luyện kỹ năng.

Dạy toán là dạy kiến thức, kỹ năng, tư duy và tính cách (Nguyễn Cảnh Toàn). Trong đó kỹ năng có một vị trí đặc biệt quan trong, bởi vì nếu không có kỹ năng thì sẽ không phát huy được tư duy và cũng không đáp ứng được nhu cầu giải quyết vấn đề. Rèn luyện kỹ năng là một yêu cầu quan trọng đảm bảo m i quan hệ giữa học với hành. Việc dạy học sẽ không đạt kết quả nếu học sinh chỉ biết học thuộc lòng định nghĩa, định lý mà không biết vận dụng không thành thạo vào việc giải bài tập.

Sự hình thành kỹ năng Sự hình thành các kỹ năng đó là sự nắm vững cả một hệ thống phức tạp các thao tác phát hiện và cải biến thông tin chứa đựng trong các tri thức và tiếp thu được từ đối tượng, đối chiếu và xác lập quan hệ của thông tin với các hành động. Tính chất của các thao tác và của các quá trình tư duy giải các bài toán phụ thuộc vào mục đích mà các thao tác nói trên hướng tới và vào nội dung của bài toán. Bản thân hoạt động tư duy khi giải bất kỳ bài toán nào thể hiện trong những biến đổi đối tượng của tư duy, tách ra trong đối tượng những khía cạnh và những thuộc tính ngày càng mới được ghi lại trong các khái niệm và được biểu thị bằng các từ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ