CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ INTERLEUKIN Interleukin là những cytokin phân tử nhỏ và có hoạt tính cao. Các cytokin được sản xuất bởi những tế bào khác nhau và chỉ với một lượng picomol cytokin cũng có thể gây ra các biến đổi trong chuyển hóa tế bào.
Các IL bao gồm một lượng lớn các phân tử truyền tin thứ hai trong hệ miễn dịch. IL khởi đầu một phản ứng bằng cách gắn với các thụ thể có ái lực cao nằm trên bề mặt tế bào [27]. Cho đến nay, các IL đã biết được chia làm 4 nhóm lớn dựa trên đặc điểm cấu trúc khác nhau. Những nhóm này gồm các gen mã hóa: (i) cytokin giống IL-1, (ii) cytokin có cấu trúc xoắn bậc 1 (giống IL-4, chuỗi γ, giống IL6/12), (iii) cytokin có cấu trúc xoắn bậc 2 (giống IL-10 và giống IL-28), (iv) các cytokin giống IL-17 [27].
Ngoài ra con có một số IL không nằm trong 4 nhóm kể trên do đặc điểm cấu trúc riêng biệt hoặc thiếu thông tin về cấu trúc. IL gồm các họ như sau được trình bày ở Bảng 1.1 Tổng quan về các IL [27]. Họ Các IL trong họ Cấu trúc và chức năng IL-1 IL-1 và chất đối kháng Gập nhiều ở chuỗi β (β-trefoil) thụ thể IL-1, IL-18, IL- 33 Họ cytokin chuỗi γ IL-2, IL-4, IL-7, IL-9, 4 chuỗi xoắn α, lõi xoắn ngắn, (chuỗi ngắn nhóm IL-15, IL-21, TSPL phức hợp thụ thể bao gồm thụ i) thể γc. Họ cytokin giống IL-3, IL-4, IL-5, IL-13, 4 chuỗi xoắn α, lõi xoắn ngắn IL-4 (chuỗi ngắn CSF2 3.
Luận văn Thạc sĩ Tổng quan tài liệu nhóm i) Họ Các IL trong họ Cấu trúc và chức năng Họ cytokin giống IL-6, IL-11, IL-12, IL- 4 chuỗi xoắn α, lõi xoắn dài IL-6/IL-12 (chuỗi 23, IL-27, IL-31, dài nhóm i) CLCF1, CNTF, CTF1, LIF, OSM, CSF3 Họ cytokin giống IL-10, IL-19, IL-20, IL- Gói xoắn với 6-7 xoắn trôn ốc IL-10 (nhóm ii) 22, IL-24, IL-26. chồng lên nhau Họ cytokin giống IL-28A, IL-28B và IL29. Gói xoắn với 6-7 xoắn trôn ốc IL-28 (nhóm ii) chồng lên nhau Họ cytokin giống IL17A, IL17B, IL17C, Nếp gấp giống neurotrophin IL-17 IL17D, IL25 (aka IL17E), IL17F Khác IL8, TXLNA (aka IL14), IL16, IL32, IL34, CSF1 Hiểu biết về tác động của các IL ngày càng được nâng cao kể từ khi phát hiện ra monocyt IL (còn được gọi là IL-1) và lymphocyt IL (còn được gọi là IL-2). Hiện nay đã có hơn 40 cytokin được phân loại vào gia đình IL.
Vai trò của các IL trong cơ thể cũng như trong các bệnh lý ngày càng được làm rõ [2]. TỔNG QUAN VỀ INTERLEUKIN-2 1. Cấu trúc của Interleukin-2. Cấu trúc tinh thể của IL-2 được xác định vào năm 1987 và được thể hiện trên Hình 1.1: IL-2 là một protein hình cầu bao gồm bốn chuỗi xoắn α (A, B, C, D) theo chiều 4.
Luận văn Thạc sĩ Tổng quan tài liệu xuống-xuống-lên-lên khá phổ biến của nhiều Interleukin và yếu tố tăng trưởng. Liên kết đơn disulfid, liên kết giữa vòng A và acid amin 13 trên vùng kéo dài trước vòng D. Vùng đặc hiệu được xác định là các acid amin bề mặt như Lys35, Arg38, Phe42, Lys43 đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết với thụ thể [39].1 Cấu trúc của Interleukin 2 [39]. Cấu trúc thụ thể của Interleukin-2 IL-2 thể hiện hoạt tính hoạt tính khác nhau khi gắn kết với các thụ thể khác nhau trên bề mặt tế bào: IL-2Rα, IL-2Rβ, và γc.
IL-2Rα được gọi là IL-2R ái lực thấp (Kd = 10 nM) và không liên quan đến đường truyền tín hiệu nội bào. Phức hợp IL- 2Rβ và γc gắn kết với IL-2 với ái lực trung bình (Kd = 1 nM) và đây là thụ thể trên tế bào NK, đại thực bào, và tế bào T. Phức hợp của 3 thụ thể gắn kết với IL-2 với ái lực cao (Kd = 10 pM) là thụ thể của tế bào T được kích hoạt.2 cho thấy IL- 2Rα là một protein hình dạng khủy tay với vùng PPI ở acid amin 20 của IL-2 và 21 của IL-2Rα, vùng hotspot kỵ nước của IL-2Rα là vùng bên của IL-2 (Phe42 và Leu72) tương ứng với khoang được tạo thành bởi Leu42, Tyr43 và Met25 trên bề mặt IL-2Rα và cầu muối giữa Gl62 và Arg36 của thụ thể [39]. Luận văn Thạc sĩ Tổng quan tài liệu Hình 1.2 a) Cấu trúc của Interleukin-2 kết hợp với IL-2Rα; b) vùng hotspot của IL- 2Rα [39].
Cấu trúc của IL-2 tương tác với bộ ba thụ thể ái lực cao cho thấy rằng: tương tác của IL-2 và IL-2Rα không khác so với nhị phối tử, và IL-2Rα không tương tác với IL-2Rβ hay γc, chức năng của IL-2Rα là giúp cho IL-2 trình diện với IL-2Rβ và γc để bắt đầu chuỗi đường truyền tín hiệu. Sự tương tác giữa Interleukin-2 và thụ thể IL-2Rαβγ: Tương tác của IL-2/IL-2Rα là tương tác ái lực thấp với bề mặt tương tác giữa vòng A’, B’ với một phần của vòng A, B của IL-2; vòng G, C với D thuộc D1, vùng A thuộc D2 trên IL-2Rα. Hai liên kết kỵ nước giữa Phe42 và Tyr45 thuộc IL-2 với rãnh giữa chuỗi β của IL-2Rα [6]. Tương tác của IL-2/IL-2Rβ là tương tác của vòng A và C của IL-2 với các vòng CC’1, EF1, BC2 và FG2 của IL-2Rβ.
Bề mặt tương tác rất phân cực với 8 liên kết hydro, trong đó có 7 phân tử nước được hình thành khi IL-2 tương tác với IL-2Rβ. Luận văn Thạc sĩ Tổng quan tài liệu Thụ thể γc bao gồm 2 bề mặt tương tác: bề mặt nhỏ với IL-2 và lớn hơn với IL-2Rβ. Tương tác IL-2/ γc vùng A, D của IL-2 với CC’1, EF1, BC2, FG2 và liên kết giữa G1, A2 trên γc. Tương tác giữa IL-2 Rβ/ γc trên một vùng rộng ở D2/ IL-2Rβ và D2/ γc bao gồm 21 acid amin của IL-2Rβ và 19 acidmin của γc (C2, C’2, E2, C’E2) rất phân cực với 17 liên kết hydro.
Tương tác giữa Interleukin-2 và thụ thể IL- 2Rαβγ thể hiện trên Hình 1.3 Liên kết của IL-2/ IL-2Rαβγ [6] 1. Con đường dẩn truyền tín hiệu của Interleukin-2 IL-2 hoạt động chủ yếu 3 con đường tín hiệu, bao gồm JAK-STAT (chủ yếu JAK1, STAT5A và STAT5B), RAS-MAP kinase và PI 3-kinase/AKT. IL-2 tương tác đầu tiên thụ thể IL-2Rα sau đó là IL-2Rβ, γc. Thụ thể cytokin týp 1 thường thiếu miền protein kinase (ngoài trừ c-Kit, thụ thể của tế bào gốc SCF và thụ thể CSF1, M- sCSF) thay vào đó thì có miền Janus familly tyrosine kinase (JAKs) để khởi tạo tín hiệu sinh học.4 cho thấy IL-2 được tiết ra từ tế bào T CD4+ hoạt hóa từ đó tác động đến các tế bào miễn dịch khác như tế bào Tregs (cũng sản xuất 1 ít IL-2) 7.
Luận văn Thạc sĩ Tổng quan tài liệu cũng biểu hiện thụ thể IL-2. Những tế bào miễn dịch khác như CD8+, NK, tế bào gai cũng có khả năng tiết IL-2 tuy nhiên ít hơn nhiều so với CD4+. Tế bào gai có biểu hiện thụ thể α có thể gắn với IL-2 và kết hợp với các thụ thể β, γc trên các tế bào khác. Tế bào T thường có biểu hiện thấp PTEN- một phosphatidulinositol 3,4,5 triphosphat 3-phosphatase được mã hóa bởi gen có trong các tế bào ung thư đột biến và có thể xem xét để ức chế khối u.
Tế bào Tregs có biểu hiện cao PTEN làm giảm dòng tín hiệu PI 3-kinase mà không ức chế tín hiệu JAK/STAT5. Thiếu PTEN làm giảm IL-2Rα và tế bào Tregs thiếu vùng phiên mã đặc hiệu là FoxP3 [11]. IL-2 cũng đóng góp vào việc biệt hòa tế bào T thành tế bào Th1, Th2, Th9 trong khi lại ức chế tạo thành Th17 và Th (Tfh). IL-2 thông qua con đường STAT5 có thể tăng biểu hiện thụ thể IL-12R β2, IL-4Rα qua đó tằng cường biệt hóa tế bào T thành tế bào Th2 [11].4 Vai trò của IL-2 đối với các tế bào khác trong phản hồi miễn dịch [11].
Vai trò của Interleukin-2 Thụ thể của IL-2 bao gồm 3 thành phần: IL-2Rα, IL-2Rβ, γc. IL-2Rα hiện diện thấp trên tế bào T phụ thuộc vào tình trạng kích hoạt thụ thể tế bào T. IL-2Rβ thì được 8. Luận văn Thạc sĩ Tổng quan tài liệu biểu hiện trên tế bào T đang nghỉ ngơi và cũng là một thành phần của thụ thể của IL-15.
Thụ thể γc biểu hiện rộng rãi trên các tế bào miễn dịch và trên thụ thể của các interleukin khác như IL-4, IL-7, IL-7, IL-9, IL-15, IL-21. Chỉ có IL-2Rβ và γc là tiếp tục con đường dẫn truyền tín hiệu nội bào thông qua việc kích hoạt con đường JAK (Janus kinase) như JAK1 (IL-2Rβ) và JAK3 (γc). Việc gắn kết của IL-2 và bộ 3 thụ thể ái lực cao làm kích hoạt con đường MAP, STAT5 [12]. Trong đáp ứng miễn dịch tổng thể đối vời kháng nguyên, IL-2 và IL-2Rα cùng hiện diện khi tế bào T kích hoạt.
Việc gia tăng IL-2 phụ thuộc vào nồng độ IL-2Rα trên bề mặt tế bào. IL-2 gắn kết với thụ thể IL-2 Rα trước rồi phức hợp này gắn kết với thụ thể β và γc (trên cùng tế bào hay các tế bào liền kề nhau) sau đó kích hoạt tín hiệu nội bào dẫn đến quá trình phiên mã, thụ thể IL-2 được kích hoạt dẫn đến việc giảm biểu hiện của IL-2, hạn chế kích thích việc tự tác động, trong khi nồng độ IL- 2Rα cao thì duy trì con đường tác động lên các tế bào kế cận. Tùy thuộc vào thụ thể nào được hoạt hóa, tế bào T kích hoạt được tăng sinh (chủ yếu là CD4+ hoặc CD8+). Mức độ tín hiệu IL-2 cũng được chứng minh là cho ảnh hưởng tới sự phát triển đến các tế bào CD4+, CD8+ ghi nhớ (tế bào cần thiết cho hiệu quả của việc chống tái nhiễm).
Các tế bào Tregs phụ thuộc vào nồng độ IL-2 để tồn tại và biểu hiện số lượng lớn thụ thể IL-2Rα tuy nhiên lại không tự sản xuất được IL-2. Các tế bào này được gọi là tế bào trung gian hoạt động nhưng ức chế miễn dịch tự động và đóng vai trò quan trọng trong duy trì tự miễn [12]. Vai trò của IL-2 liều cao trong ung thư: với khả năng kích thích tế bào T tăng trưởng in vitro, IL-2 được mở rộng trong in vivo và được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận di căn. Năm 1992, IL-2 được FDA chấp thuận trong điều trị melanoma và ung thư biểu mô tế bào thận, và sử dụng kết hợp với histamin di-hydroclorids được chấp thuận ở Châu Âu để ngăn chặn bệnh bạch cầu mạn dòng tủy tái phát.
IL-2 liều thấp cho bệnh miễn dịch và kháng viêm: với khả năng tác động lên tế bào Tregs, IL-2 liều thấp được nghiên cứu để sử dụng trên các bệnh tự miễn và viêm 9. Luận văn Thạc sĩ Tổng quan tài liệu như: đái tháo đường týp 1, lupus ban đỏ, viêm gan C, bệnh thải ghép.