CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Công trình nghiên cứu về phế phẩm nông nghiệp 1. Nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, một số đề tài khoa học tận dụng được tính chất polymer tự nhiên của phế phẩm nông nghiệp để thay thế cho một số sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường: chế tạo tấm panel cách nhiệt làm từ xơ dừa, bả mía, rơm rạ sau đó phối trộn với chất kết dính, sau đó ép thành tấm và phơi khô, sản xuất gạch xây dựng từ rơm rạ. Các sản phẩm phân hữu cơ từ các phế phẩm nông nghiệp ủ từ vi sinh: như thân ngô, rơm,.
đã được trường đại học Lâm Nghiệp nghiên cứu quy trình và tính khả thi áp dụng tại Phổ Yên, Thái Nguyên. Đề tài này đã tiến hành các thí nghiệm ủ phụ gia nông nghiệp bằng chế phẩm sinh học được lựa chọn là Anvi-Tricho và bằng các hỗn hợp khác như men rượu, tro và nước để làm mẫu đối chứng. Kết quả thí nghiệm cho thấy rằng các thành phần dinh dưỡng như N, P, K trong mẫu sử dụng Anvi-Tricho cao hơn các mẫu đối chứng, đặc biệt sau 28 ngày, thì mẫu ủ bằng Anvi-Tricho trở nên tơi xốp, màu đen xám và sẵn sàng mang đi bón cây. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về thu nhận bột giấy hiệu suất cao từ thân ngô theo phương pháp xử lý hai công đoạn với hydropeoxit trong môi trường kềm hay thay thế kiềm bằng axit và bổ sung xúc tác Na2MoO4 Nghiên cứu sử dụng phương pháp tạo mẫu thí nghiệm và phân tích mẫu theo tiêu chuẩn TAPPI.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng tro trong thân ngô chiếm khoảng 5. Hàm lượng chất tan trong dung dịch NaOH 1% (32.4%) rất cao so với một số loại tre nứa, hàm hượng các thành phần chính là cellulose 41. Kết quả thu nhận bột giấy từ thân cây ngô, bao gồm các công đoạn nấu, nghiền, và trích ly kiềm. Dịch nấu chứa các tác nhân tách loại lignin là hydropeoxit và axit sunfuric, xúc tác natri molypdat.
Bột giấy thu được sau nấu được xử lý với kềm. Chế độ công nghệ thích hợp được xác lập khi nấu ở nhiệt độ 100oC trong 90 phút, với mức dùng 5% H2O2, 1.25% Na2MoO4 so với nguyên liệu thân ngô, trích ly kềm ở 100oC trong 60 phút, với mức dùng 0.5% NaOH so với nguyên liệu ban đầu. Bột giấy thu được có hiệu suất (65-66) %, có hàm lượng lignin (17-18)%. Qua 4 Luan van phân tích tính chất cơ học, bột giấy có thể sử dụng cho sản xuất bao gói, catton.
“Dịch đen” thải của quá trình nấu có thể tái sử dụng nhiều lần [1]. Bài báo trình bày kết quả tiềm năng sinh khối phụ phẩm rơm rạ và hiệu quả tận thu sản xuất than sinh học (biochar) quy mô hộ gia đình ở Tiền Giang, trường hợp nghiên cứu điển hình ở huyện Gò Công Tây. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng sản lượng lúa trên địa bàn huyện là 185072 tấn/năm và phát sinh tương ứng lượng khối lượng rơm rạ 233190. Lượng sinh khối rơm rạ có thành phần hữu cơ và nhiệt lượng cao, lần lượt chiếm tỷ lệ 44.1% và 4030 kcal/kg.
Với khối lượng 100 kg củi rơm nguyên liệu đầu vào, sau 6 giờ đốt lượng than sinh học thu được tương ứng 48. Lượng tro sinh ra và than sống có tỷ lệ khá thấp với lần lượt 0. Mô hình sản xuất than sinh học tối ưu có khoảng thời gian đốt ngắn nhất, lượng than cao, hàm tro thấp, khối lượng than sống nhỏ. Thành phần chất hữu cơ và nhiệt lượng đáp ứng yêu cầu chất lượng để sử dụng cho mục đích cải tạo đất, nâng cao nâng suất cây trồng và hướng đến nền nông nghiệp bền vững.
Nghiên cứu ngoài nước Năm 2011 học viện kỹ thuật và dệt may DKTE đã nghiên cứu thành công khả năng tạo sợi, màng và giấy từ thân chuối cũng như khả năng loại bỏ lignin của chúng bằng NaOH, NaClO2, H2O2. Các sợi cellulose được tách khỏi lignin và hemiaelluloses, có thể được thực hiện biến tính về mặt hóa học, cơ học hoặc bằng cách kết hợp hai phương pháp. Kết quả phân tích, phương pháp hóa học ít hoặc không ảnh hưởng đến chiều dài sợi. Số lượng Kappa, năng suất, chỉ số giới hạn độ nhớt được sử dụng để mô tả mức độ loại bỏ lignin trong quá trình nấu [2].
Đại học Kỹ thuật Caledonia, Muscat, Oman nghiên cứu so sánh tính chất sợi của thân chuối và bả mía đối với khả năng tạo ra bột giấy bằng cách thêm phụ gia CaCO3, tinh bột,… Thông qua các phương pháp đo GSM, pH, độ ẩm, độ dày. Trong dự án này, phế phẩm nông nghiệp từ bã mía và sợi chuối đã được sử dụng để sản xuất giấy thủ công. Nguyên liệu được phơi khô dưới ánh mặt trời và đi qua thùng nước để loại bỏ bụi bặm. Tiếp theo, nó được nấu với dung dịch xút 10% trong nồi áp suất và sau đó trộn trong máy trộn cho thời gian khác nhau.
Dung dịch pha loãng của Clorox đã được sử dụng cho sự đổi màu và thanh lọc bột giấy. Ba loại giấy tờ được làm từ bột giấy đã được nấu trước đó. 5 Luan van Loại đầu tiên được thực hiện bằng cách chỉ sử dụng nguyên liệu thô, loại thứ hai bằng cách thêm 2% CaCO3 và 2% tinh bột. Và loại thứ ba bằng cách thêm 5% của cả hai chất phụ gia.
Những giấy tờ này được sấy khô và sau đó ủi cho thẳng. GSM, pH, Độ dày, Số lượng lớn và Độ ẩm được kiểm tra. Tính chất sợi bã mía nặng và thô. Trong khi mẫu giấy từ sợi chuối rất hữu ích cho việc sử dụng mềm như: khăn lau, giấy,… Dự án này rất thân thiện với môi trường vì nó sử dụng chất thải nông nghiệp [3].
Các nhà khoa học Anh đã mang lại một bước đột phá mới, thông qua một thủ thuật nhỏ trong phòng thí nghiệm. Đó là công trình nghiên cứu phát triển một loại nhựa sinh học vừa có đặc tính như những loại nhựa thông thường, vừa đảm bảo an toàn và thân thiện với môi trường, có thể dùng một hay nhiều lần. Theo đó, nhóm các nhà khoa học Anh đến từ Đại học Warwick và Đại học York (Anh) đã chỉnh sửa lại một số ren có trong rơm rạ, nhằm tăng tốc độ chuyển đổi xử lý thực vật thành chất liệu nhựa sinh học. Theo tính toán của nhóm các nhà khoa học này thì chỉ cần 5% lượng rơm rạ hàng năm, hoặc chỉ 3% lượng bã mía sau khi sử dụng để lấy đường, thì họ có thể sản xuất được hàng tỷ chai nhựa để đựng nước uống (khoảng 17 tỷ chai).
Cụ thể, các nhà khoa học Anh đã sản xuất nhựa sinh học từ chất lignin (chất gỗ), có thể là mùn cưa, một loại vật liệu tự nhiên mà chính nhờ đó nó giúp cho thân cây có thể đứng vững. Sau đó, họ tiếp tục chưng cất đường để hoàn thiện sản phẩm nhựa, thay vì việc dùng dầu hỏa (một loại nhiên liệu hóa thạch) để làm nhựa. Kết quả cho thấy, các nhà khoa học đã thu được một loại nhựa mới vừa bền, nhưng lại có tốc độ phân hủy thần tốc, không như loại nhựa thông thường phải mất hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm vẫn chưa phân hủy được, gây ô nhiễm môi trường tự nhiên. Tổng quan phế phẩm nông nghiệp 1.
Định nghĩa phế phẩm nông nghiệp Phế phẩm nông nghiệp hoặc là phế phẩm của cây trồng được định nghĩa là dư lượng trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Những dư lượng này có thể được phân loại thành dư lượng cách đồng và dư lượng quá trình. Dư lượng nông nghiệp được tạo ra trên đồng ruộng tại thời điểm thu hoạch, được định nghĩa là dư lượng cánh đồng. Trong khi những phế phẩm trong quá trình chế biến, sơ chế nông sản được gọi là dư lượng quá trình [4].
Phân loại phế phẩm nông nghiệp Phế phẩm cánh đồng: là những dư lượng được tạo ra trên đồng ruộng tại thời điểm thu hoạch hoặc vườn cây ăn trái. Những dư lượng này bao gồm thân cây, lá cây, gốc cây, vỏ hạt như rơm rạ, thân cây chuối, đầu mía chùm dừa rỗng và thân cây vườn cây ăn trái phế phẩm là lá, vỏ, thân cây ngô. Phế phẩm quá trình: là những dư lượng sau quá trình chế biến, sơ chế nông sản như: trấu, bã mía, lõi ngô, vỏ đậu phộng, vỏ dừa, bụi xơ dừa, bụi cưa, vỏ dầu cọ, xơ [4]. Khái quát chung phế phẩm nông nghiệp Phế phẩm nông nghiệp là sản phẩm phổ biến của những nước có nền nông nghiệp phát triển.
Hằng năm lượng phế phẩm thải ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp là rất lớn và trong chế biến các loại cây công nghiệp, sản xuất hoa quả, thực phẩm…cũng đa dạng. Cánh đồng ngô Hình 1. Phế phẩm nông nghiệp Trong 10 năm gần đây (2009-2019), tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành nông nghiệp đạt 2.61%/năm, tốc độ tăng giá trị sản xuất đạt 3.64%, đóng góp đáng kể trong tăng trưởng GDP cả nước. Ngành nông nghiệp Việt Nam không chỉ đảm bảo sứ mệnh an ninh lương thực, thực phẩm cho quốc gia mà còn xuất khẩu nhiều mặt hàng cho giá trị cao.
Sản lượng lúa gạo tăng từ 39.2 triệu tấn năm 2009 lên 43.45 triệu tấn năm 2019, tăng 12.2%, sản lượng rau các loại tăng 80.5%, trái cây tăng 50%. Với thế mạnh nông nghiệp, Việt Nam có ưu thế đảm bảo an ninh lương thực hơn phần lớn các nước đang phát triển ở châu Á, và có vai trò ngày càng tăng trong hỗ trợ an ninh lương thực cho các quốc gia khác.[5] 7 Luan van Chỉ tính riêng việc sản xuất lúa gạo, theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố tại hội nghị thúc đẩy sản xuất tiêu thụ lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long đầu năm 2019, hiện nay đất sản xuất lúa cả nước chiếm trên 4 triệu ha; năm 2019 diện tích lúa cả nước trên 7.53 triệu ha (2 vụ), sản lượng lúa dự kiến đạt trên 43. Theo tính toán của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trung bình sản xuất 1 tấn lúa thì tạo ra 1 tấn rơm rạ, như vậy mỗi năm cả nước tạo khoảng 43-44 triệu tấn rơm rạ [6]. Mặc dù, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và được cơ giới hóa, được chú trọng nhưng nó cũng gây ảnh hưởng tới môi trường.
Hằng năm một lượng phế thải dư thừa trong thu hoạch, chế biến các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm rất lớn và đa dạng về chủng loại thải ra môi trường mà chưa được quan tâm xử lý hiệu quả.