Chương 1 : Tổng quan về vấn đề hủy hợp đồng nhập khẩu và những rủi ro đối với các nhà nhập khẩu hàng hóa Chương 2: Phân tích những rủi ro đối với các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên liệu tại thành phố Hồ Chí Minh từ việc hủy bỏ hợp đồng nhập khẩu. Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và khắc phục rủi ro phát sinh từ việc hủy hợp đồng nhập khẩu đối với các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên liệu tại thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn thành được một Luận văn có tính thiết thực cho công việc của bản thân, lời đầu tiên, người viết xin chân thành cảm ơn những gợi mở, góp ý, hướng dẫn rất tận tình từ PGS.TS Nguyễn Tiến Hoàng, ngay từ khi bắt đầu lựa chọn đề tài, đến Luan van 9 quá trình làm đề cương và thực hiện Luận văn hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, những kiến thức của các thầy cô đã truyền đạt trong suốt khóa học EMBA đầu tiên tại Đại học ngoại thương cơ sở 2 thành phố Hồ Chí Minh, cũng là những nền tảng vững chắc giúp người viết tự tin hơn khi thực hiện đề tài.
Và cũng xin dành lời tri ân đến bạn bè cùng nhóm thực hiện luận văn, tập thể lớp EMBA, gia đình đã động viên, có những giúp sức không nhỏ để người viết có thêm động lực hoàn thành Luận văn này nói riêng, và hoàn thành chương trình khóa học EMBA nói chung, trong khả năng tốt nhất có thể đạt được. Bên cạnh đó, do những hạn chế về thời gian, không gian nghiên cứu, tài liệu tham khảo., Luận văn chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi hạn chế, thiếu sót. Rất mong thầy, cô và người đọc đóng góp ý kiến để người viết có thể hoàn thiện thêm cho bài Luận văn của mình. Luan van 10 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ HỦY HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU VÀ NHỮNG RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC NHÀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 1.
Khái niệm, đặc điểm, nội dung và các điều khoản chủ yếu của hợp đồng nhập khẩu 1. Khái niệm Cùng với sự hình thành và phát triển của thương mại quốc tế, hợp đồng ngoại thương ra đời. Bản chất của nó là hợp đồng mua bán nói chung, nhưng được diễn ra trên một phạm vi địa lý rộng lớn (giữa các quốc gia, lãnh thổ quốc tế) và là sự thống nhất về ý trí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá. Theo Công ước Viên 1980 thì hợp đồng mua bán quốc tế là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu ( bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu ( bên mua ) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; bên nhập khẩu có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
Luật thương mại Việt Nam 2005, điều 27, có quy định : “1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”. Như vậy, hợp đồng xuất hay nhập khẩu, chỉ được xác định khi nhìn nhận ở một quốc gia cố định.
Hợp đồng nhập khẩu ở Việt Nam, nhưng với đối tác ở nước ngoài trong hợp đồng, thì lại là hợp đồng xuất khẩu. Điều cốt lõi của hợp đồng xuất nhập khẩu là sự thoả thuận giữa các bên ký kết. Nếu không có sự đồng thuận thì không có mua bán, không có hợp đồng. Hình thức của sự thoả thuận cũng là hình thức của hợp đồng.
Thoả thuận viết làm nên hợp đồng văn bản. Thỏa thuận bằng lời nói có thể hình thành các giao ước hợp đồng miệng .Ở nước ta hình thức duy nhất hợp pháp đối với hợp đồng xuất nhập khẩu là văn bản. Hợp đồng văn bản là bản hợp đồng có chữ ký của hai bên mua bán, cùng Luan van 11 với thư từ, hoặc điện tín, fax trao đổi giữa các bên như thư chào hàng, chấp nhận chào hàng và xác nhận đơn đặt hàng. Đặc điểm Hợp đồng nhập khẩu có đặc điểm: Thứ nhất, (đặc điểm quan trọng nhất) chủ thể của hợp đồng, người mua, người bán có cơ sở kinh doanh đăng ký tại hai quốc gia khác nhau.
ở đây cần lưu ý rằng quốc tịch không phải là yếu tố để phân biệt: dù người mua và người bán có quốc tịch khác nhau nhưng nếu việc mua bán được thực hiện trên lãnh thỗ của cùng một quốc gia thì hợp đồng mua bán cũng không mang tính chất quốc tế. Thứ hai: Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc cả hai bên. Thứ ba: Hàng hóa - đối tượng mua bán của hợp đồng được chuyển ra khỏi đất nước người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng. Thứ tư: Văn bản hợp đồng là văn bản có giá trị pháp lý bắt buộc các bên phải có trách nhiệm thực hiện các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận và ký kết trong hợp đồng.
Những văn bản này phải được hình thành trên cơ sở thỏa thuận một cách bình đẳng và tự nguyện giữa các bên. Thứ năm: Chủ thể hợp đồng là những đối tác cam kết thực hiện những nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi theo những điều kiện của hợp đồng. Hợp đồng có thể ký giữa: Pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Nội dung và các điều khoản chủ yếu Nội dung chủ yếu của hợp đồng nhập khẩu.
Tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá, hoặc tùy thuộc vào tập quán buôn bán giữa các bên, mà nội dung của hợp đồng nhập khẩu có thể khác nhau. Có những hợp đồng đưa ra rất nhiều những điều khoản, điều kiện hết sức chặt chẽ và chi tiết, nhưng có những hợp đồng lại chỉ đưa ra những điều khoản cơ bản nhất và khá đơn giản. Nhưng thông thường một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Luan van 12 thường gồm hai phần là: những điều trình bày (presentations) và các điều khoản, điều kiện (terms and conditions). Nội dung phần trình bày: Mã số hợp đồng (contract number) Địa điểm và ngày tháng ký hợp đồng Tên và địa chỉ cũng như các thông tin khác của các đương sự Những định nghĩa dùng trong hợp đồng Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng: Đây có thể là hiệp định chính phủ, nghị định thư, chí ít người ta cũng đưa ra sự tự nguyện của hai bên khi tham gia kí kết hợp đồng.
Các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng nhập khẩu Điều khoản về tên hàng : Tên hàng là điều khoản quan trọng của mọi đơn chào hàng, thư hỏi hàng, hợp đồng và nghị định thư. Nó xác định chính xác đối tượng mua bán, trao đổi. Vì vậy các bên luôn tìm cách diễn đạt chính xác tên hàng. Có một số cách thông dụng để biểu đạt tên hàng: ghi tên thương mại, tên khoa học, và tên thông dụng của hàng hoá sản xuất, kèm theo địa phương sản xuất, tên hãng sản xuất hoặc kèm theo công dụng của chúng.
Điều khoản về chất lượng Chất lượng là điều khoản nói lên mặt chất của đối tượng, hàng hoá mua bán. Điều kiên chất lượng thể hiện những yêu cầu về mặt chất của hàng hoá như tính năng ( lý tính, hoá tính, tính chất cơ lý.) quy cách, kích thước, tác dụng.của hàng hoá đó. Các bên ký kết hợp đồng có thể thoả thuận lựa chọn việc xác định quy cách phẩm chất của hàng hoá theo một trong các cách thức sau đây : Mua bán hàng hoá theo phẩm cấp hoặc tiêu chuẩn: phương pháp này xác định phẩm chất hàng hoá dựa vào tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn phương Luan van 13 pháp sản xuất, chế biến, đóng gói, kiểm tra hàng hoá đã được quy định. ví dụ ISO 9000, TCVN.
là cơ sở để xác định hàng hoá chất lượng. Mua bán hàng hoá theo mẫu: phương pháp này xác định chất lượng hàng hóa trên căn cứ một số ít hàng hoá mà bên bán đưa làm mẫu hàng. Người bán phải có nghĩa vụ giao hàng cho người mua theo đúng mẫu. Mẫu hàng hoá sẽ là cơ sở để làm đối chứng với hàng hoá được giao, nếu các bên thoả thuận áp dụng cách thức này thì mẫu sẽ phải bảo quản lưu giữ theo nguyên tắc chọn 3 mẫu như nhau cho bên bán, bên mua và bên thứ 3 cất giữ, tất cả các mẫu hàng đó đều phải có xác nhận của các bên, được niêm phong và bảo quản đúng yêu câù kỹ thuật đối với mẫu.
Một số phương pháp khác: hàng hoá mua bán có thể được xác định phẩm chất qua quy cách hàng hoá (Specification), hay chỉ tiêu đại khái quen dùng, hay hàm lượng chất chủ yếu trong hàng hoá. Điều khoản về số lượng: Điều khoản về số lượng cần ghi chính xác số lượng hàng hoá, hoặc có thể ghi số lượng hàng hoá kèm dung sai. Do tính chất phức tạp của hệ thống đo lường được áp dụng trong thương mại quốc tế, các bên ký kết cần phải thoả thuận chọn và áp dụng tên những đơn vị phổ biến và dễ hiểu để tránh những hiểu lầm đáng tiếc xảy ra trong giao dịch của mình. Phương pháp quy định trọng lượng gồm: trọng lượng cả bì, trọng lượng tịnh, trọng lượng thương mại và trọng lượng lý thuyết.
Điều khoản về bao bì, kí mã hiệu: Trong điều khoản này, các bên thường thoả thuận với nhau về yêu cầu chất lượng và giá cả của bao bì như: Chất lượng bao bì, phương pháp cung cấp bao bì và giá cả bao bì nhằm bảo đảm cho lộ trình vận chuyển và bảo quản hàng, đồng thời nâng cao tính hấp dẫn cho sản phẩm. Chất lượng bao bì có qui định chung như phải phù hợp với phương thức vận tải, với từng phương thức vận tải khác nhau thì có yêu cầu khác nhau về chất lượng Luan van 14 bao bì.