Một Số Rối Nhiễu Tâm Lý Của Sinh Viên Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh

Chuyên khảo y tế phân tích Luận văn một số rối nhiễu tâm lý của sinh viên đại học y dược thành phố hồ chí minh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Trường đại học

Đại học Y Dược TP.HCM

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận
119
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Giả thuyết nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Điểm mới của đề tài

0.7. Tính khái quát hóa và tính ứng dụng

0.8. Hạn chế của phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước về rối nhiễu tâm lý

1.2. KHÁI NIỆM RỐI NHIỄU TÂM LÝ

1.2.1. Khái niệm rối nhiễu stress

1.2.2. Đặc điểm rối nhiễu Stress

1.2.3. Phân loại rối nhiễu stress

1.2.4. Nguyên nhân rối nhiễu stress

1.2.5. Khái niệm rối nhiễu trầm cảm

1.2.6. Đặc điểm rối nhiễu trầm cảm

1.2.7. Phân loại rối nhiễu trầm cảm

1.2.8. Nguyên nhân rối nhiễu trầm cảm

1.2.9. Phương pháp trị liệu rối nhiễu trầm cảm

1.2.10. Khái niệm rối nhiễu lo âu

1.2.11. Đặc điểm rối nhiễu lo âu

1.2.12. Phân loại rối nhiễu lo âu

1.2.13. Nguyên nhân rối nhiễu lo âu

1.2.14. Liệu pháp trị liệu rối nhiễu lo âu

1.3. RỐI NHIỄU TÂM LÝ Ở SINH VIÊN

1.3.1. Tình cảm và công việc

1.3.2. Hoạt động tình dục và sự mang thai

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.2.1. Dân số mục tiêu

2.2.2. Khách thể nghiên cứu (Dân số chọn mẫu)

2.3. CỠ MẪU NGHIÊN CỨU

2.4. THU THẬP SỐ LIỆU

2.4.1. Bộ câu hỏi thu thập dữ liệu

2.4.2. Các bước nghiên cứu

2.4.3. Kiểm soát sai lệch dữ liệu

2.5. XỬ LÝ SỐ LIỆU-PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

2.5.1. Phân tích dữ liệu

2.6. LIỆT KÊ VÀ ĐỊNH NGHĨA BIẾN SỐ

2.6.1. Biến số nền

2.6.2. Biến số tiên lượng

2.7. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG RỐI NHIỄU TÂM LÝ TRONG SINH VIÊN

3.1. Độ tin cậy thang đo

3.2. Thực trạng rối nhiễu tâm lý trong sinh viên

3.3. Một số yếu tố có khả năng tác động đến một số rối nhiễu tâm lý trong sinh viên

3.4. Tỉ lệ có khả năng rối nhiễu tâm lý theo các mức độ khác nhau ở sinh viên

3.5. Mối tương quan giữa đặc tính mẫu, gia đình-xã hội gây rối nhiễu tâm lý

3.6. Mối tương quan giữa đặc tính mẫu và rối nhiễu trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên

3.7. Mối quan hệ giữa trầm cảm và lo âu ở sinh viên

3.8. Mối quan hệ giữa trầm cảm và stress ở sinh viên

3.9. Mối quan hệ giữa lo âu và stress ở sinh viên

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về rối nhiễu tâm lý ở sinh viên Đại học Y Dược TP

Rối nhiễu tâm lý là một vấn đề nghiêm trọng trong cộng đồng sinh viên, đặc biệt là tại các trường đại học y dược. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần mà còn tác động đến hiệu suất học tập và chất lượng cuộc sống của sinh viên. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên y dược thường phải đối mặt với áp lực học tập cao, dẫn đến các triệu chứng như stress, lo âu và trầm cảm. Việc hiểu rõ về rối nhiễu tâm lý là cần thiết để có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả.

1.1. Khái niệm rối nhiễu tâm lý và ảnh hưởng đến sinh viên

Rối nhiễu tâm lý bao gồm các tình trạng như stress, lo âu và trầm cảm. Những tình trạng này có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và học tập của sinh viên. Theo nghiên cứu, khoảng 65% sinh viên y dược gặp phải các triệu chứng rối nhiễu tâm lý trong quá trình học tập.

1.2. Tình hình rối nhiễu tâm lý ở sinh viên Đại học Y Dược

Tại Đại học Y Dược TP.HCM, tỷ lệ sinh viên gặp rối nhiễu tâm lý đang gia tăng. Các yếu tố như áp lực học tập, kỳ vọng từ gia đình và môi trường sống có thể góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng này. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên năm nhất và năm ba có tỷ lệ rối nhiễu cao hơn so với các năm học khác.

II. Nguyên nhân gây rối nhiễu tâm lý ở sinh viên Đại học Y Dược

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rối nhiễu tâm lý ở sinh viên, từ áp lực học tập đến các vấn đề cá nhân. Việc nhận diện đúng nguyên nhân sẽ giúp xây dựng các giải pháp can thiệp hiệu quả hơn.

2.1. Áp lực học tập và kỳ vọng từ gia đình

Áp lực học tập là một trong những nguyên nhân chính gây ra rối nhiễu tâm lý. Sinh viên thường phải đối mặt với khối lượng kiến thức lớn và kỳ vọng cao từ gia đình, dẫn đến stress và lo âu.

2.2. Môi trường sống và các mối quan hệ xã hội

Môi trường sống không ổn định và các mối quan hệ xã hội phức tạp cũng có thể góp phần vào tình trạng rối nhiễu tâm lý. Sinh viên sống xa nhà thường cảm thấy cô đơn và thiếu hỗ trợ, điều này làm tăng nguy cơ mắc các rối loạn tâm lý.

III. Phương pháp giải quyết rối nhiễu tâm lý cho sinh viên

Để giảm thiểu rối nhiễu tâm lý, cần áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ giúp sinh viên cải thiện sức khỏe tâm lý mà còn nâng cao chất lượng học tập.

3.1. Tư vấn tâm lý và hỗ trợ từ chuyên gia

Tư vấn tâm lý là một giải pháp hiệu quả giúp sinh viên giải quyết các vấn đề tâm lý. Các chuyên gia có thể cung cấp các kỹ năng đối phó và hỗ trợ sinh viên trong việc quản lý stress.

3.2. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa và thể dục thể thao

Các hoạt động ngoại khóa và thể dục thể thao giúp sinh viên giảm căng thẳng và cải thiện sức khỏe tâm lý. Tham gia vào các hoạt động này cũng tạo cơ hội cho sinh viên giao lưu và kết nối với nhau.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý

Nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý ở sinh viên Đại học Y Dược TP.HCM đã chỉ ra rằng việc can thiệp kịp thời có thể cải thiện đáng kể tình trạng sức khỏe tâm lý của sinh viên. Các kết quả này có thể được áp dụng để xây dựng các chương trình hỗ trợ hiệu quả.

4.1. Kết quả từ các chương trình can thiệp

Các chương trình can thiệp đã cho thấy hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ rối nhiễu tâm lý. Sinh viên tham gia các hoạt động hỗ trợ tâm lý có xu hướng cảm thấy thoải mái hơn và cải thiện kết quả học tập.

4.2. Đề xuất các giải pháp cho tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các chương trình hỗ trợ tâm lý cho sinh viên. Việc lồng ghép sức khỏe tâm lý vào chương trình học sẽ giúp sinh viên có được kiến thức và kỹ năng cần thiết để đối phó với rối nhiễu tâm lý.

V. Kết luận về rối nhiễu tâm lý ở sinh viên Đại học Y Dược

Rối nhiễu tâm lý là một vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm tại Đại học Y Dược TP.HCM. Việc nhận diện nguyên nhân và áp dụng các giải pháp can thiệp kịp thời sẽ giúp cải thiện sức khỏe tâm lý cho sinh viên.

5.1. Tầm quan trọng của sức khỏe tâm lý trong giáo dục

Sức khỏe tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Sinh viên có sức khỏe tâm lý tốt sẽ có khả năng học tập và làm việc hiệu quả hơn.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu và can thiệp

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về rối nhiễu tâm lý ở sinh viên. Các giải pháp can thiệp cần được điều chỉnh và phát triển để phù hợp với nhu cầu thực tế của sinh viên.

16/07/2025
Luận văn một số rối nhiễu tâm lý của sinh viên đại học y dược thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ. Những nghiên cứu ở nước ngoài. Vào những năm 1955, một số tác giả đã quan tâm đến việc nghiên cứu yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sức khỏe [86], [89].

Năm 2007, nhóm tác giả Naiemeh Seyedfatemi, Maryam Tafreshi1 và Hamid Hagani, kết quả nghiên cứu cho thấy, rối nhiễu tâm lý sinh viên năm nhất là 65,8% tăng khối lượng công việc lớp học tỉ lệ 66,9% và thường xuyên nhất là sự stress trong môi trường tình huống không quen thuộc là 64,2% và chờ đợi lâu dài tỉ lệ là 60,4%. Sự stress nhiều hơn đáng kể trong năm đầu tiên so với các sinh viên năm thứ tư. Trong số các chiến lược đối phó trong 12 lĩnh vực, vấn đề gia đình cố gắng giải thích với cha mẹ và thỏa hiệp tỉ lệ 73%, đi cùng với các quy tắc trong gia đình tỉ lệ 68% đã được sử dụng thường xuyên bởi hầu hết sinh viên. Để đối phó với yêu cầu tham gia vào hoạt động, sinh viên thường xuyên cố gắng tìm ra cách đối phó với vấn đề có tỉ lệ 66,4% và cố gắng để cải thiện bản thân có tỉ lệ 64,5%.

Các chiến lược tự chủ, cố gắng để làm theo quyết định của mình tỉ lệ 62%, các chiến lược hỗ trợ xã hội tỉ lệ 59,6%, cố gắng để giúp bạn khác giải quyết vấn đề của họ tỉ lệ 56,3%, và cố gắng để theo kịp bạn bè hoặc những người bạn mới tỉ lệ 54,4%, các chiến lược tinh thần như cầu nguyện/suy niệm tỉ lệ 65,8%, các chiến lược chuyển hướng tìm kiếm nghe nhạc tỉ lệ 57,7%, chiến lược thư giãn tỉ lệ 52,5%, và nỗ lực để được gần gũi với quan tâm đến một người nào đó về bạn tỉ lệ 50,5% đã từng sử dụng thường xuyên theo đa số sinh viên. Hầu hết sinh viên cho rằng các chiến lược tránh hút thuốc lá tỉ lệ 93,7% và uống bia hoặc rượu vang tỉ lệ 92,9%, chửi thề tỉ lệ 85,8%, chiến lược nhận được tư vấn chuyên nghiệp tỉ lệ 74,6% và nói chuyện với một giáo viên hoặc nhân viên tư vấn tỉ lệ 67,2% và chiến lược hài hước đùa và giữ một cảm giác hài hước tỉ lệ 51,9% [73]. Một nghiên cứu tại Tehran, hầu hết các sinh viên là nữ tỉ lệ 87,2% độ từ 18 đến 24 tuổi, khoảng 57% sinh viên sống trong ký túc xá trường đại học (đến từ các thành phố khác). Kết quả cho thấy sinh viên gặp khó khăn khi stress thì mới tìm kiếm bạn bè tỉ lệ 76,2% và làm việc với những người họ không biết tỉ lệ 63,4%, làm việc với những người họ không biết và thay đổi mối quan hệ trong hoạt động xã hội thì thường xuyên bị stress hơn so với sinh viên nhóm khác, những khác biệt này là ý nghĩa thống kê.

Phổ biến nhất của các yếu tố ảnh hưởng hưởng đến stress là trách nhiệm mới (tỉ lệ 72,1%, p<0,001), yếu tố bắt đầu học đại học và bắt đầu vào môi trường mới (tỉ lệ 65,8%), và thay đổi trong thói quen ngủ làm tăng stress nhiều hơn đáng kể so với những sinh viên khác. Bắt đầu có sự quan tâm và nghiên cứu về sức khỏe tâm lý ở thanh thiếu niên ở các nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan và các nước châu Á khác [103], chưa có nghiên cứu về sức khỏe tâm lý sinh viên Việt Nam từ năm 2010 trở về trước. Kết quả của một nghiên cứu định tính của nhóm tác giả H.G Van der Hooft-Leemans (2010), siên sinh viên Điều Dưỡng năm nhất về nhận thức đối với các bệnh nhân tâm thần và chăm sóc sức khỏe tâm thần ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ về chuyên môn trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần và tương lai làm việc trong lĩnh vực này, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc sinh viên học tại một trường học của Hà Lan [54], kết quả sinh viên Điều Dưỡng năm nhất có ấn tượng, chủ yếu là nhận thức tiêu cực đối với người bệnh là bệnh tâm thần và chăm sóc sức khỏe tâm thần. Những nhận thức mạnh mẽ ảnh hưởng sự lựa chọn tương lai nghề nghiệp của mình.

Khảo sát mối quan hệ giữa cách đối phó, lòng tự trọng, các yếu tố cá nhân và sức khỏe tâm lý trong 515 sinh viên Điều Dưỡng được lựa chọn từ bốn Viện Công cộng và các trường Cao Đẳng tại Tây An của Trung Quốc bằng một phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, nhóm tác giả C.Liu và cộng sự 2010, họ đã sử dụng thang đo tự đánh giá SCL-90. Trên cơ sở tổng số điểm của thang đo SCL-90 đạt được trong cuộc khảo sát, gồm điểm nhóm thấp (100 SV) và nhóm điểm cao (100 SV). Sau đó thiết kế nghiên trường hợp bắt cặp được kiểm soát được thực hiện để xác định những mối quan hệ giữa cách đối phó, lòng tự trọng, các yếu tố cá nhân và sức khỏe tâm thần. Ngoài ra thống kê mô tả, phân tích Chi bình phương, t-test và phân tích hồi quy logistic đa biến cũng được sử dụng.

Các hoạt động đối phó và lòng tự trọng điểm của các nhóm điểm số cao đã được tìm thấy là thấp hơn nhiều so với những người trong nhóm điểm thấp (p<0,05). Phân tích hồi quy Logistic đa biến cho rằng học tập stress gấp 10 lần, khoảng tin cậy 95% là từ 3,3 đến 30,7 trong năm qua. Tự hài lòng cao, tỉ số chênh là 3,7% (OR= 0,037, KTC 95% từ 1,4% đến 9,7% và lòng tự trọng tăng lên khoảng 35% dao động trong KTC 95% là từ 15,2 đến 83,8%, và nó được xem là các yếu tố phòng ngừa. Để cải thiện sức khỏe tâm lý của sinh viên Điều dưỡng, ngoài việc giảm stress học tập, tránh bị động trong đối phó, đó là điều rất cần thiết để sinh viên giảm thiểu stress, đẩy mạnh tự chủ, và phát triển lòng tự trọng [74].

Một yếu tố khác đó là sự kỳ thị của sinh viên đối với người bị rối nhiễu tâm lý- bệnh tâm thần, một khảo sát trên sinh viên Dược khoa tại Úc, Bỉ, Estonia, Phần Lan, Ấn Độ và Latvia, cho thấy sinh viên học tập trong bối cảnh này thường biểu lộ thái độ tiêu cực đối với người bị rối loạn tâm thần. Một vài nghiên cứu quốc tế đã tìm cách điều tra các yếu tố của sự kỳ thị. Để tiến hành so sánh quốc tế sự kỳ thị của sinh viên các nước đối với người có tâm thần phân liệt, và để xác định xem sự kỳ thị được liên kết với các thuộc tính khuôn mẫu nào của những người bị tâm thần phân liệt, tác giả M.Woods và cộng sự (2010) khảo sát 649 người tại 8 trường Đại học ở Australia, Bỉ, Ấn Độ, Phần Lan, Estonia và Latvia, bộ câu hỏi (SDS) được sử dụng, và sáu yếu tố liên quan đến các thuộc tính khuôn mẫu của những người tâm thần phân liệt. Kết quả cho thấy trung bình là 19,65 ± 3,97 điểm SDS ở Úc, 19,61 ± 2,92 ở Bỉ, 18,75 ± 3,57) ở Ấn Độ, 18,05 ± 3,12) ở Phần Lan, và 20,90 ± 4,04) ở Estonia và Latvia.

Mô hình tiên đoán là mạnh mẽ nhất có liên quan với việc có một khoảng cách xã hội cao tại Úc (beta= -1,29), quan niệm cho rằng mọi người sẽ không bao giờ phục hồi tại Ấn Độ (beta= -0,88), là nguy hiểm ở Phần Lan (beta=-1,47) và nhận thức được khó khăn để nói chuyện với người bệnh ở Estonia và Latvia (beta = -2,08), khoảng cách xã hội thấp hơn ở Bỉ (beta=0,839). Ngoài ra kết quả cũng chỉ ra rằng các mức độ mà học sinh có thái độ kỳ thị tương tự ở mỗi nước, tuy nhiên, các yếu tố của sự kỳ thị là khác nhau [102]. Kết quả về thái độ của sinh viên ngành Phục hồi Chức năng trong một nghiên cứu thực nghiệm có nhóm chứng. Dân số mục tiêu được chia thành 2 nhóm: sinh viên phục hồi chức năng là 219 người, nhóm 2 sinh viên khác (không thuộc ngành y) là 112 người.

Tuổi từ 17-28 tuổi. Trong nhóm sinh viên PHCN, cho học 65 giờ về phục hồi chức năng tâm thần. Kết quả so sánh giữa hai nhóm cho thấy thái độ đối với bệnh tâm thần được tích cực vừa phải 103,3±9,9 điểm. Có một sự khác biệt nhỏ nhưng đáng kể giữa các sinh viên PHCN, sinh viên nữ có thái độ tích cực hơn đối với bệnh tâm thần so với sinh viên nam (Cohen d=0,44).

Những sinh viên có kinh nghiệm về bệnh nhân tâm thần thì có thái độ có liên quan với thái độ tích cực (Cohen d=0,68) hơn, nghĩa là thái độ tích cực tăng sau khi hoàn thành một khóa học tâm thần (Cohen d=0,72) [81]. Vấn đề sức khỏe tâm lý và hành vi tìm kiếm giúp đỡ giữa các sinh viên đại học. Theo nhóm tác giả Hunt.D rối loạn tâm thần phổ biến trong số các sinh viên đại học và các rối loạn này xuất hiện để được gia tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng [56]. Sức khỏe tâm lý của sinh viên Nữ Hộ sinh (Úc), tác giả Mc.E và cộng sự khảo sát Trường Đại học Victoria, Melbourne, Victoria 8001, Australia.

Phụ nữ mang thai và gặp vấn đề sức khỏe tâm lý sau sinh, có 38 SV được thăm dò, kết quả cho thấy rằng các sinh viên đã có một khái niệm chủ yếu là giáo dục sức khỏe cho phụ nữ và thông báo các can thiệp sức khỏe tâm lý cho phụ nữ sau khi sinh. Những phụ nữ có niềm tin tôn giáo thì mức độ rối loạn tâm lý sau khi sinh thấp hơn rất nhiều so với nhóm còn lại [69]. Yếu tố niềm tin trong bản thân của mỗi sinh viên, giúp cho họ giảm thấp tỉ lệ rối nhiễu tâm lý. Gần đây Úc cải cách chăm sóc sức khỏe, đã cố gắng để giải quyết giảm gánh nặng của bệnh mãn tính bằng cách áp dụng chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Bằng cách này, các nhân viên sức khỏe cộng đồng được thử thách để chứng minh sự hiểu biết và năng lực của họ để thực hành theo nguyên tắc chăm sóc sức khỏe ban đầu. Mô hình này đặc biệt thích hợp cho tương lai phát triển chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng và Điều dưỡng y tế cộng đồng ở Úc [102]. Ngoài ra còn có bằng chứng về sức khỏe nghề nghiệp, can thiệp tại nơi làm việc có thể có hiệu quả những stress. Kompier đã chỉ ra rằng một số các can thiệp nhằm mục đích giảm bớt stress trong các trình điều khiển xe buýt đã có hiệu quả mang lại lợi ích cho nhân viên và các công ty xe buýt [61].

Là một cá nhân trở thành những người bị bệnh hoặc thương tích nghiêm trọng đối mặt với thực tế khác nhau rất nhiều stressors.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Rối Nhiễu Tâm Lý Ở Sinh Viên Đại Học Y Dược TP.HCM: Nguyên Nhân và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng rối nhiễu tâm lý mà sinh viên ngành y dược đang phải đối mặt. Tài liệu phân tích các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này, bao gồm áp lực học tập, kỳ vọng từ gia đình và xã hội, cũng như các yếu tố cá nhân như sức khỏe tâm thần. Bên cạnh đó, tài liệu cũng đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm hỗ trợ sinh viên vượt qua khó khăn, từ việc cải thiện môi trường học tập đến việc khuyến khích các hoạt động thể chất và tâm lý.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh viên, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn sự lo âu ở phụ nữ sau sinh, nơi khám phá những khía cạnh tâm lý của phụ nữ sau sinh, hay Sức khỏe và bất công bằng sức khỏe ở một số nhóm dân tộc thiểu số tại việt nam thực trạng và giải pháp, tài liệu này giúp bạn hiểu rõ hơn về sự bất công trong chăm sóc sức khỏe. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ kinh tế một số yếu tố tác động tới tình trạng thừa cân béo phì của học sinh trung học cơ sở tại thành phố hồ chí minh năm học 2017 2018 cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của học sinh, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về sức khỏe tâm lý và thể chất trong môi trường học đường.