phần mở đầu, tài liệu tham khảo, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận - Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu 6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu trong các nghiên cứu đi trƣớc 1. Nghiên cứu về rối loạn lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu trên thế giới Cuối thế kỳ 19, nhiều nhà nghiên cứu đã có sự quan tâm đến tình trạng sức khỏe tâm thần của con ngƣời. Trong các bệnh về sức khỏe tân tầm, lo âu, trầm cảm đƣợc xem là những bệnh tâm căn.
Đến năm 1866, Morel gộp chung lại những trạng thái lo âu dƣới cái tên là: “Hoang tƣởng cảm xúc“ (Délire émotif), khác với hystérie và ƣu bệnh (hypochondria) [30, tr. Sigmend Freud cho rằng lo âu có căn nguyên tâm lý và liên quan đến tính dục (libido). Theo ông lo âu xảy ra trong vô thức và liên quan đến những xung đột nội tâm, xung đột này càng nhiều thì lo âu càng nặng. Nhƣng sau đó ông nhận thấy rằng những tác động của môi trƣờng trong và ngoài cơ thể, đặc biệt là các sang chấn tâm lý có thể gây lo âu ở các mức độ khác nhau.
Cuối cùng ông định nghĩa lo âu (anxiety) nhƣ là tín hiệu cảnh báo sự nguy hiểm (danger) trong vô thức và không có đối tƣợng rõ ràng. Điều này khác với sợ hãi (fear) là tín hiệu cảnh báo trong nhận thức tỉnh táo với một hay nhiều đối tƣợng đƣợc nhận thứccụ thể. Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD10, 1992) đã ghi nhận sự kết hợp quan trọng của các rối loạn này với các nguyên nhân tâm lí. Rối loạn lo âu đƣợc xếp vào các rối loạn tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể.
Năm 1994, Hội tâm thần học Mỹ đƣa ra bảng phân loại DSM – IV, coi rối loạn tâm thần là những triệu chứng bất thƣờng về tâm lý hoặc hành vi có ý nghĩa về mặt lâm sàng làm ảnh hƣởng đến chức năng sống của cá nhân, suy giảm năng lực nhận thức hoặc mang đến cảm giác tiêu cực. 7 z Nghiên cứu của Rieger và cộng sự (1990) có khoảng 15 % dân số nói chung, trong cuộc đời đã trải nghiệm các triệu chứng mang đặc trƣng đủ của RLLA và 2,3 – 8,1 % có RLLA hiện hữu. Tóm lại, qua các nghiên cứu đã đƣợc điểm luận, khái RLLA đã xuất hiện và đƣợc chú ý nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 trên thế giới. Nội hàm của RLLA đƣợc nhiều nhà nghiên cứu và tác giả bổ sung và khái quát theo thời gian.
Tỉ lệ rối loạn lo âu trong dân số nói chung ở các nƣớc trên thế giới trong vài thập kỷ qua dao động trong khoảng từ 15 – 20% dân số trong đó tỉ lệ RLLA ở trẻ em dao động trong khoảng từ 5,7 – 17,7 %. Nghiên cứu về rối loạn lo âu và tỉ lệ rối loạn lo âu tại Việt Nam Ở Việt Nam, số lƣợng trẻ em trong độ tuổi học sinh mắc rối loạn lo âu và trầm cảm có xu hƣớng tăng lên trong những năm gần đây. Ví dụ nhƣ nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú và cộng sự trên 1500 trẻ tại hai phƣờng Kim Liên và Trung Tự (2000) cho thấy có tới 1,9 % đến 3 % trẻ có lo âu – trầm cảm. Nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh (2000) trên 503 học sinh cấp II cho thấy tỉ lệ trẻ đã từng trải qua rối loạn lo âu là rất cao: 17,65 % - 19,20 %.
Một nghiên cứu khác của Hoàng Cẩm Tú và cộng sự (2007) khảo sát sức khỏe tâm thần ở 1.727 học sinh THCS ở Hà Nội cho thấy có 25,76% tổng số học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó số học sinh có những vấn đề cảm xúc (lo âu – trầm cảm) là cao nhất – chiếm tới 29,7%, tỷ lệ nữ mắc nhiều hơn nam. Còn theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hằng và Nguyễn Thị Nga (2009), có 20,65% học sinh lớp 1 có lo âu học đƣờng ở mức độ vừa, trong đó tình huống kiểm tra kiến thức ở lớp học là nguyên nhân lớn nhất. Gần hơn, nghiên cứu của Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss và Nguyễn Cao Minh (2013) đã điều tra dịch tễ trên 1.314 trẻ em từ 6 – 16 tuổi ở 10 tỉnh, thành phố Việt Nam đã cho thấy có 9,6% trẻ có các vấn đề hƣớng nội ở mức lâm sàng. 8 z Trong đó, lo âu/ trầm cảm chiếm 1,8%, thu mình chiếm 2,1%, than phiền cơ thể chiếm 4,1%.
Tỉ lệ này ở mức ranh giới là 18,3%. Theo Bác sĩ Nguyễn Thanh Hồi - Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hƣơng, kết quả cuộc khảo sát mới đây đƣa ra con số giật mình: 19,46 % học sinh trong độ tuổi từ 10-16 tuổi gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần. Trong khi đó, hiểu biết của xã hội (thậm chí ngay trong ngành y tế) về chăm sóc sức khỏe tâm thần còn rất nghèo nàn. Nhƣ vậy, gần 20% trẻ dƣới 16 tuổi có vấn đề sức khỏe tâm thần [33].
Một nghiên cứu chúng tôi dẫn theo tài liệu của Nguyễn Công Khanh, "Báo cáo của tổ chức y tế thế giới năm 1995 công bố rằng có khoảng 20% ngƣời lớn đã có trải nghiệm cơn hoảng sợ trong đời. Theo thống kê của nhiều nƣớc trong nhiều thập kỷ qua, tỉ lệ rối loạn lo âu trẻ em là 5,7 đến 17,7%. Theo Kashani và O.Verchell (1997) tỉ lệ rối loạn lo âu trẻ em và vị thành niên Mỹ là khoảng 9%. Còn tại Hoa Kỳ hiện nay, mỗi năm có hàng triệu dân mắc bệnh này" [16, tr.
Nghiên cứu về “Thực trạng gây ra RLLA ở học sinh trƣờng trung học phổ thông chuyên Quảng Bình” – Nguyễn Thị Hằng Phƣơng, 2007. Điều tra trên 600 học sinh. Kết quả thu đƣợc có 130 học sinh có RLLA(21,6%). Trong một nghiên cứu khác cũng của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phƣơng, 2005 sƣ dụng trắc nghiệm Zung trong khảo sát thực trạng lo âu ở học sinh đã rút ra một số nhận định nhƣ sau: Khi so sánh về giới thì các em nam (7,72%) có biển hiện lo âu nhiều hơn nữ (5,45%).
So sánh giữa các lớp thì ở lớp có học lực khá hơn (7,72%) có lo âu nhiều hơn lớp có học lực trung bình (5,09%). Tình hình lo âu ở học sinh THPT trên địa bàn thành phố Hà nội qua điều tra dịch tễ trên 220 em, có 13,14% các em có biểu hiện lo âu Cụ thể là: 17 em (7,72%) có lo âu nhẹ. 9 em có lo âu trung bình( 4,09%). 1 em có lo âu trên trung bình và 2 em (0,9%) có biểu hiện lo âu bệnh lý.
9 z Nguyễn Doãn Thành và cộng sự với nghiên cứu về Thực trạng Stress lo âu và những liên quan đến lo âu ở học sinh cấp III ở một trƣờng cấp III ở Bình Thuận (4/2009) thu đƣợc kết quả 38% học sinh có biểu hiện stress lo âu. Nhƣ vậy, qua những công trình nghiên cứu về rối loạn lo âu ở trẻ em Việt Nam đã đƣợc điểm luận trên đây, tỉ lệ rối loạn lo âu ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông có sự dao động lớn có thể từ 15% – 30% tùy thuộc vào mẫu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và công cụ sàng lọc sử dụng trong các nghiên cứu. Nghiên cứu về các yếu tố có liên quan tới rối loạn lo âu ở trẻ Trong phần này, chúng tôi sẽ điểm luận một số công trình nghiên cứu trong nƣớc và trên thế giới kết luận về các yếu tố có liên quan đến rối loạn lo âu ở trẻ. Trong đó phải để đến các yếu tố thuộc về chủ thể, yếu tố gia đình và môi trƣờng học đƣờng.
Ví dụ liên quan đến yếu tố thuộc về chủ thể, công trình của M. Pior và cộng sự ( 1983 – 2001) trên 2443 trẻ theo chiều dọc từ lúc trẻ mới sinh tới tuổi 18. Kết quả cho thấy 42 % những em có tính cách hay xấu hổ, nhút nhát, thu mình đo đƣợc vào thời điểm 9 tuổi thƣờng phát triển thành rối loạn lo âu vào giai đoạn 13 – 14 tuổi. Hay liên quan đến yếu tố gia đình, Warren và Huston ( 1997) cho rằng mối quan hệ mẹ con quá kéo dài sẽ làm tăng trạng thái lo âu của trẻ và sự gắn bó kéo dài là một yếu tố dự đoán quan trọng về trạng thái lo âu ở trẻ.
Còn liên quan đến môi trƣờng học đƣờng, kết quả thu đƣợc từ nghiên cứu của Nguyễn Doãn Thành cho thấy có 29% học sinh thƣờng hay bị stress lo âu vì áp lực thi cử và 33% học sinh thƣờng hay có stress lo âu vì áp lực học tập ở trƣờng, 70% trong tổng số học sinh thƣờng hay bị stress lo âu vì học môn học không thích, 48% trong tổng số học sinh bị stress lo âu vì không hợp thầy cô. Hay 10 z trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Hằng ở học sinh lớp 1 cho thấy có 26,65% học sinh tham gia nghiên cứu cho biết rất lo lắng trong các tình huống nhƣ kiểm tra bài cũ, bài tập về nhà, làm bài thi, bài kiểm tra, phát biểu trƣớc lớp, giải bài tập trên bảng. Đặc biệt, 2/3 trẻ đƣợc hỏi có biểu hiện lo âu liên quan đến mối quan hệ với giáo viên; 1/3 trẻ xem thành tích học tập là áp lực lớn. Bên cạnh các nghiên cứu tập trung vào một nhóm nguyên nhân cụ thể, cũng có nhiều nghiên cứu về các nguyên nhân của RLLA ở học sinh nói chung.
Ví dụ nhƣ nghiên cứu “Thực trạng gây ra RLLA ở học sinh trƣờng trung học phổ thông chuyên Quảng Bình” của Nguyễn Thị Hằng Phƣơng cho thấy có 4 nhóm yếu tố gây ra RLLA ở học sinh : 1) Yếu tố học tập. 2) Yếu tố gia đình. 3) Bản thân học sinh. 4) Mối quan hệ xã hội.
Tác giả cũng cho biết mức độ gây lo lắng của các yếu tố này trong đó xếp hạng cao nhất gây ra RLLA cho học sinh là nhóm yếu tố liên quan đến học tập. Thứ hai là nhóm yếu tố thuộc về bản thân học sinh. Thứ 3 là nhóm yếu tố thuộc về vấn đề gia đình. Nhóm có ảnh hƣởng ít nhất đến RLLA là mối quan hệ xã hội.