Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo Cho Học Sinh Trung Học Cơ Sở Thông Qua Các Bài Tập Chương Tứ Giác

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở qua bài tập chương tứ giác lớp 8 trong dạy học toán.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2016

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Đại cương về tư duy

1.2. Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy

1.3. Những đặc điểm của tư duy

1.4. Vấn đề phát triển năng lực tư duy

1.5. Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển

1.6. Tư duy sáng tạo

1.6.1. Tư duy sáng tạo là gì?

1.6.2. Quá trình sáng tạo

1.6.3. Một số yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo

1.6.3.1. Tính mềm dẻo
1.6.3.2. Tính nhuần nhuyễn
1.6.3.3. Tính hoàn thiện
1.6.3.4. Tính nhạy cảm vấn đề

1.7. Biện pháp rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học môn Toán

1.7.1. Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh cần kết hợp với các hoạt động trí tuệ khác

1.7.2. Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh cần đặt trọng tâm vào việc rèn luyện khả năng phát hiện vấn đề mới, khơi dậy những ý tưởng mới

1.7.3. Chú trọng bồi dưỡng từng yếu tố cụ thể của tư duy sáng tạo

1.7.4. Rèn luyện tư duy sáng tạo là một quá trình lâu dài cần tiến hành trong tất cả các khâu của quá trình dạy học

1.8. Thực trạng việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở

1.9. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP CHƯƠNG “TỨ GIÁC”

2.1. Một số kiến thức cơ bản của chương “Tứ giác” lớp 8

2.1.1. Hình thang, hình thang cân

2.1.2. Hình bình hành

2.1.3. Hình chữ nhật

2.1.4. Đường trung bình của tam giác, của hình thang

2.1.5. Đối xứng trục, đối xứng tâm

2.1.6. Đường thẳng song song với một đường thẳng cho trước

2.2. Xây dựng một số bài toán nội dung chương “Tứ giác” nhằm rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh

2.2.1. Những bài toán có nhiều cách giải

2.2.2. Có thể thay đổi điều kiện thứ yếu trong bài toán để tạo ra bài toán mới

2.2.3. Phát triển từ một bài toán hình học

2.2.4. Một số bài tập có dễ mắc sai lầm

2.3. Rèn luyện tư duy sáng tạo qua bài toán dựng hình chương “Tứ giác” lớp 8

2.3.1. Các bước giải của bài toán dựng hình

2.3.2. Các kiến thức cơ bản

2.3.3. Dựng hình bằng thước và compa dựng hình thang

2.4. Các bài toán tổng hợp phối hợp các hoạt động trí tuệ nhằm phát triển các loại hình tư duy

2.5. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, nhiệm vụ, phương pháp, kế hoạch thực nghiệm

3.2. Tiến trình thực nghiệm sư phạm

3.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.4. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo Cho Học Sinh THCS

Thế kỷ XXI đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đào tạo thế hệ trẻ có trí tuệ, thông minhsáng tạo. Giáo dục cần đổi mới phương pháp dạy học, tập trung vào rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh. Việc học tập tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có ý thức về mục tiêu và động lực để tự tư duy. Toán học, với ứng dụng rộng rãi trong khoa học, công nghệ và đời sống, đóng vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy sáng tạo. Môn Toán không chỉ là công cụ mà còn là chìa khóa cho sự phát triển. Nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này, nhưng việc rèn luyện tư duy sáng tạo qua các bài tập tứ giác lớp 8 vẫn chưa được khai thác sâu. Luận văn này tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các phương pháp cụ thể.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Tư Duy Sáng Tạo Trong Giáo Dục Toán Học

Toán học có vai trò lớn trong sự phát triển của khoa học và kỹ thuật. Nó liên quan chặt chẽ và có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ, sản xuất và đời sống xã hội hiện đại. Toán học còn là một công cụ để học tập và nghiên cứu các môn học khác. Việc rèn luyện tư duy sáng tạo trong hoạt động dạy toán học được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Theo G.Polya, cần nghiên cứu bản chất của quá trình giải toán, quá trình sáng tạo toán học.

1.2. Lịch Sử Nghiên Cứu Về Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo Toán Học

Nhiều tài liệu nghiên cứu về việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học các bộ môn. Các công trình khoa học nghiên cứu rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở qua các bài tập tứ giác lớp 8. Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng hệ thống các bài toán trong chương tứ giác lớp 8 nhằm phát triển và rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh. Các bài toán trong hệ thống cần tiềm ẩn các cơ hội có thể khai thác và rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh.

II. Thách Thức Trong Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo Với Bài Tập Tứ Giác

Việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh THCS qua các bài tập tứ giác lớp 8 còn nhiều hạn chế. Học sinh thường gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức, phân tích bài toántìm ra các cách giải khác nhau. Giáo viên cũng cần có phương pháp giảng dạy phù hợp để kích thích tư duy sáng tạo của học sinh. Cần có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa các bài tập cơ bảnbài tập nâng cao để học sinh có thể phát triển toàn diện. Việc đánh giá tư duy sáng tạo cũng là một thách thức, cần có các tiêu chí cụ thể và khách quan.

2.1. Khó Khăn Của Học Sinh Khi Giải Bài Tập Tứ Giác Sáng Tạo

Học sinh thường gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức đã học để giải các bài tập tứ giác mang tính sáng tạo. Các em có thể thiếu kỹ năng phân tích bài toán, tìm kiếm các mối liên hệ giữa các yếu tố và đưa ra các giải pháp khác nhau. Điều này đòi hỏi giáo viên cần có phương pháp giảng dạy phù hợp để kích thích tư duykhả năng sáng tạo của học sinh.

2.2. Yêu Cầu Đối Với Giáo Viên Trong Dạy Học Bài Tập Tứ Giác

Giáo viên cần có kiến thức sâu rộng về toán hình học, đặc biệt là về tứ giác. Đồng thời, cần có khả năng thiết kế các bài tập mang tính thử thách, kích thích tư duykhả năng sáng tạo của học sinh. Giáo viên cũng cần tạo ra một môi trường học tập cởi mở, khuyến khích học sinh đặt câu hỏi, thảo luậnchia sẻ ý tưởng.

III. Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo Qua Bài Tập Tứ Giác

Để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh THCS qua các bài tập tứ giác, cần áp dụng các phương pháp sau: Xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, từ cơ bản đến nâng cao, có tính thực tiễnứng dụng. Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán, tìm kiếm các mối liên hệgiải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau. Khuyến khích học sinh tự học, tự nghiên cứu và chia sẻ ý tưởng với bạn bè. Tạo môi trường học tập cởi mở, khuyến khích tư duy phản biệnsáng tạo. Đánh giá quá trình học tập một cách khách quan và toàn diện.

3.1. Xây Dựng Hệ Thống Bài Tập Tứ Giác Đa Dạng Và Thú Vị

Hệ thống bài tập cần bao gồm các dạng bài tập khác nhau, từ bài tập cơ bản đến bài tập nâng cao, từ bài tập lý thuyết đến bài tập thực hành. Các bài tập nên có tính thực tiễn, liên hệ với các vấn đề trong cuộc sống để kích thích sự hứng thú của học sinh. Có thể sử dụng các hình ảnh, video hoặc game để làm cho bài tập trở nên sinh độnghấp dẫn hơn.

3.2. Hướng Dẫn Học Sinh Phân Tích Và Giải Quyết Vấn Đề Sáng Tạo

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách phân tích bài toán, xác định các yếu tố quan trọng và tìm kiếm các mối liên hệ giữa chúng. Cần khuyến khích học sinh sử dụng các phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề, như phương pháp thử và sai, phương pháp suy luận logic, phương pháp vẽ hình... Giáo viên cũng cần khuyến khích học sinh tìm kiếm các cách giải khác nhau cho cùng một bài toán.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Bài Tập Tứ Giác Rèn Luyện Tư Duy Logic

Các bài tập tứ giác có thể được sử dụng để rèn luyện tư duy logic, tư duy phản biệnkhả năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Ví dụ, các bài tập về chứng minh tính chất của các loại tứ giác, các bài tập về dựng hình hoặc các bài tập về tính diện tíchchu vi. Các bài tập này đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức, phân tích, suy luậnsáng tạo để tìm ra lời giải. Việc giải các bài tập này giúp học sinh phát triển tư duy một cách toàn diện.

4.1. Bài Tập Chứng Minh Tính Chất Tứ Giác Phát Triển Tư Duy Logic

Các bài tập yêu cầu chứng minh các tính chất của hình bình hành, hình chữ nhật, hình vuông, hình thoi, hình thang... đòi hỏi học sinh phải nắm vững định nghĩa, tính chấtdấu hiệu nhận biết của các loại tứ giác. Học sinh cần sử dụng các phương pháp chứng minh khác nhau, như chứng minh trực tiếp, chứng minh phản chứng, chứng minh bằng quy nạp... để xây dựng lập luận chặt chẽ và đưa ra kết luận chính xác.

4.2. Bài Tập Dựng Hình Tứ Giác Nâng Cao Khả Năng Tư Duy Hình Học

Các bài tập yêu cầu dựng các loại tứ giác khi biết một số yếu tố cho trước, như độ dài cạnh, góc, đường chéo... đòi hỏi học sinh phải nắm vững các dụng cụphương pháp dựng hình. Học sinh cần phân tích bài toán, xác định các bước dựng hìnhthực hiện các thao tác một cách chính xác. Việc dựng hình giúp học sinh nâng cao khả năng tư duy hình họckhả năng vận dụng kiến thức vào thực tế.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Hiệu Quả Của Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy

Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các phương pháp rèn luyện tư duy sáng tạo qua các bài tập tứ giác mang lại hiệu quả tích cực. Học sinh có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn, tư duy logicphản biện được cải thiện. Các em cũng trở nên tự tinhứng thú hơn với môn Toán. Kết quả này cho thấy tiềm năng lớn của việc ứng dụng các bài tập hình học vào việc phát triển tư duy cho học sinh THCS. Cần có sự phối hợp giữa giáo viên, học sinh và phụ huynh để đạt được hiệu quả cao nhất.

5.1. So Sánh Kết Quả Học Tập Giữa Lớp Thực Nghiệm Và Đối Chứng

Kết quả thực nghiệm cho thấy lớp học được áp dụng phương pháp rèn luyện tư duy sáng tạokết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng. Học sinh trong lớp thực nghiệm có khả năng giải quyết các bài tập khó tốt hơn, tư duy logicphản biện được cải thiện rõ rệt. Điều này chứng tỏ hiệu quả của phương pháp rèn luyện tư duy sáng tạo thông qua các bài tập tứ giác.

5.2. Đánh Giá Mức Độ Hứng Thú Của Học Sinh Với Môn Toán

Sau khi tham gia vào quá trình thực nghiệm, học sinh trong lớp thực nghiệm thể hiện mức độ hứng thú với môn Toán cao hơn so với trước. Các em trở nên tự tin hơn khi giải bài tập, chủ động hơn trong việc học tập và sẵn sàng tham gia vào các hoạt động thảo luận, chia sẻ ý tưởng. Điều này cho thấy phương pháp rèn luyện tư duy sáng tạo không chỉ giúp học sinh nâng cao kiến thức mà còn kích thích niềm đam mê với môn Toán.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo Toán Học

Việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh THCS qua các bài tập tứ giác là một hướng đi đúng đắn và cần được phát triển hơn nữa. Cần có sự nghiên cứuứng dụng rộng rãi các phương pháp dạy học tích cực, khuyến khích tư duy phản biệnsáng tạo. Đồng thời, cần có sự đầu tư vào việc xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, phù hợp với trình độ của học sinh. Với sự nỗ lực của giáo viên, học sinh và phụ huynh, chúng ta có thể nâng cao chất lượng giáo dụcđào tạo ra những thế hệ trẻ tài năng, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

6.1. Đề Xuất Các Giải Pháp Để Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo Toán Học

Cần tăng cường bồi dưỡng cho giáo viên về các phương pháp dạy học tích cực, khuyến khích tư duy sáng tạo. Cần xây dựng các tài liệu tham khảo, sách bài tập có nội dung sáng tạo, thú vị. Cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa, cuộc thi về Toán học để kích thích sự hứng thúkhả năng sáng tạo của học sinh. Cần kết hợp giữa giáo dục nhà trường, giáo dục gia đìnhgiáo dục xã hội để tạo ra một môi trường học tập toàn diện.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo

Nghiên cứu có thể tiếp tục mở rộng sang các chủ đề khác trong chương trình Toán THCS, như tam giác, đường tròn, hình học không gian... Nghiên cứu có thể tập trung vào việc phát triển các công cụ, phần mềm hỗ trợ dạy họcrèn luyện tư duy sáng tạo. Nghiên cứu có thể khảo sát về ảnh hưởng của phương pháp rèn luyện tư duy sáng tạo đến kết quả học tập của học sinh trong các môn học khác.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở thông qua các bài tập chương tứ giác lớp 8 luận văn ths lý luận và phương pháp dạy học bộ môn toán học 60 14 01 11

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Đại cương về tư duy 1. Tư duy là gì? Theo M. Sacđacôp: "Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng. Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiện tượng mới, riêng rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa đã thu nhận được.

Còn theo tác giả Nguyễn Xuân Trường (Đại học Sư Phạm Hà Nội) thì "tư duy là hành động trí tuệ nhằm thu thập và xử lí thông tin về thế giới quanh ta và thế giới trong ta. Chúng ta tư duy để hiểu, làm chủ tự nhiên, xã hội và chính mình". Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận. Theo một định nghĩa khác, "tư duy" là danh từ triêt học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thê giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó.

Cơ chế hoạt động cơ sở của tư duy dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Mặc dù không thể tách rời não nhưng tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định. Trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông hoạt động có tính vật chất. Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng cá thể người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá thể của một con người nhất định.

Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú trọng đến việc phát triển tư duy cho 5 z học sinh thông qua việc điều khiển tối ưu quá trình dạy học, còn các thao tác tư duy cơ bản là công cụ của nhận thức, đáng tiếc rằng điều này cho đến nay vẫn chưa được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả. Vẫn biết sự tích lũy kiến thức trong quá trình dạy học đóng vai trò không nhỏ, song không phải quyết định hoàn toàn. Con người có thể quên đi nhiều sự việc cụ thể mà dựa vào đó những nét tính cách của anh ta được hoàn thiện. Nhưng nếu những nét tính cách này đạt đến mức cao thì con người có thể giải quyết được mọi vấn đề phức tạp nhất, điều đó nghĩa là anh ta đã đạt đến một trình độ tư duy cao.

Những đặc điểm của tư duy Với tư cách là một mức độ của hoạt động nhận thức, tư duy có những đặc điểm sau: Tính “có vấn đề” của tư duy: Tư duy là một quá trình mang tính chất có mục đích rõ ràng. Sự cần thiết phải tư duy được nẩy sinh, trước hết, khi trong quá trình đời sống và thực tiễn xuất hiện một mục đích mới, một vấn đề mới, những hoàn cảnh và điều kiện hoạt động mới. Nhưng không phải hoàn cảnh có vấn đề nào cũng kích thích được hoạt động tư duy. Muốn kích thích được tư duy thì hoàn cảnh có vấn đề phải được nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân –nghĩa là cá nhân xác định được cái gì đã biết, đã cho và cái gì chưa biết, nếu những dữ kiện đó nằm ngoài phạm vi hiểu biết của cá nhân, thì tư duy cũng không xuất hiện.

Tính gián tiếp của tư duy: Tư duy của con người mang tính chất gián tiếp. Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ. Các quy luật, quy tắc, các sự kiện, các mối liên hệ và sự phụ thuộc, được khái quát và được diễn đạt trong các từ. Mỗi người đều sử dụng những phát minh, những kết quả tư duy của người khác để giải quyết những nhiệm vụ hằng ngày được đặt ra cho mình.

Khi sử dụng những phát minh đó vào hoạt động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày, họ thấy rõ được tính chất đúng đắn của chúng. Những quy luật mà các nhà bác học, các nhà tư tưởng ở các nước khác nhau tìm ra, cũng như cả kinh 6 z nghiệm cá nhân của con người đều là công cụ để mỗi người hiểu thế giới xung quanh, để giải quyết những vấn đề mới đối với họ. Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể, cá biệt, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất nhất chung cho nhiều sự vật, hiện tượng, rồi trên cơ sở đó mà khái quát các sự vật, hiện tượng riêng lẻ khác nhau, nhưng có chung những thuộc tính bản chất thành một nhóm, một loại, một phạm trù. Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Quan điểm duy vật biện chứng quan niệm một cách đúng đắn rằng: Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, chúng thống nhất, nhưng không đồng nhất với nhau, cũng không tách rời nhau được: tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ được, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có được nếu không dựa vào tư duy.

Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung. Tính chất lí tính của tư duy: Chỉ có tư duy mới giúp con người phản ánh được bản chất của sự vật, những mối quan hệ và liên hệ có tính chất của sự vật, những mối quan hệ và liên hệ có tính quy luật của chúng, bởi vì tư duy mới có thể vượt qua được những giới hạn trực quan, cụ thể của nhận thức cảm tính. Nói cách khác, tư duy là một mức độ cao của hoạt động nhận thức – mức độ lí tính. Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính.

Tuy là mức độ nhận thức cao hơn hẳn về chất so với nhận thức cảm tính, nhưng tư duy không tách rời khỏi nhận thức cảm tính. Mặc dù là trong những điều kiện của khoa học hiện đại, việc nghiên cứu một hiện tượng hay quá trình nào đó được bắt đầu từ những sự trừu tượng hóa cao nhất, từ những giả thuyết toán học. nhưng cuối cùng nó vẫn phải được dựa trên những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ sở trực quan sinh động. Các thao tác tư duy Quá trình tư duy được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ.

Các thao tác trí tuệ cơ bản là: a. Phân tích -tổng hợp Theo Nguyễn Cảnh Toàn: Phân tích là chia một chỉnh thể ra thành nhiều bộ phận để đi sâu vào các chi tiết trong từng bộ. Tổng hợp là nhìn bao quát lên một chỉnh thể gồm nhiều bộ phận, tìm các mối liên hệ giữa các bộ phận của chỉnh thể và của chính chỉnh thể đó với môi trường xung quanh [17, tr. Phân tích và tổng hợp là hai hoạt động trí tuệ cơ bản của quá trình tư duy.

Những hoạt động trí tuệ đều diễn ra trên nền tảng của phân tích và tổng hợp. Phân tích và tổng hợp có quan hệ mật thiết không thể tách rời, chúng là hai mặt đối lập của một quá trình thống nhất. Phân tích tiến hành theo hướng tổng hợp, tổng hợp được thực hiện theo kết quả phân tích. Trong học tập môn toán phân tích và tổng hợp có mặt ở mọi hoạt động trí tuệ, là thao tác tư duy quan trọng nhất để giải quyết vấn đề.

So sánh –tương tự So sánh là thao tác tư duy nhằm xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật và hiện tượng. Muốn so sánh hai sự vật, hiện tượng ta phải phân tích các dấu hiệu, các thuộc tính của chúng, đối chiếu các dấu hiệu, các thuộc tính đó với nhau rồi tổng hợp lại xem hai sự vật, hiện tượng có cái gì giống và khác nhau. So sánh liên quan chặt chẽ với phân tích – tổng hợp và đối với các hình thức tư duy đó có thể ở mức độ đơn giản hơn nhưng vẫn có thể nhận thức được những yếu tố bản chất của sự vật, hiện tượng. Tương tự là một dạng so sánh mà từ hai đối tượng giống nhau ở một số dấu hiệu, rút ra kết luận hai đối tượng đó cũng giống nhau ở dấu hiệu khác.

8 z Do đó, tương tự là sự giống nhau giữa hai hay nhiều đối tượng ở một mức độ nào đó, trong một quan hệ nào đó.Polya: “Hai hệ là tương tự nếu chúng phù hợp với nhau trong các mối quan hệ xác định rõràng giữa bộ phận tương ứng” [20, tr. Khái quát hoá, đặc biệt hoá, trừu tượng hoá Khái quát hoá là thao tác tư duy nhằm hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ hay quan hệ chung nhất định. Các thuộc tính chung đó gồm hai loại: những thuộc tính chung giống nhau và những thuộc tính chung bản chất. Nguyễn Bá Kim: “Khái quát hoá là chuyển từ một tập hợp đối tượng lớn hơn chứa tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số đặc điểm chung của các phần tử trong tập hợp xuất phát” [15, tr.

Theo Polya: “Khái quát hoá là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp đối tượng đã cho đến việc nghiên cứu một tập hợp lớn hơn, bao gồm cả tập hợp ban đầu” [21, tr. Như vậy có thể hiểu khái quát hoá là quá trình đi từ cái riêng, cái đặc biệt đến cái chung, cái tổng quát, hoặc từ một tổng quát đến một tổng quát hơn. Trong toán học, người ta thường khái quát một yếu tố hoặc nhiều yếu tố của khái niệm, định lý, bài toán. thành những kết quả tổng quát.

Đặc biệt hoá là thao tác tư duy ngược lại với khái quát hoá. Mối quan hệ giữa khái quát hoá và đặc biệt hoá thường được vận dụng trong tìm tòi, giải toán. Từ một tính chất nào đó, ta muốn khái quát hoá ta thử đặc biệt hoá. Nếu kết quả là của đặc biệt hoá là đúng thì ta mới tìm cách chứng minh dự đoán từ khái quát hoá.

Nhưng nếu sai thì dừng lại. Trừu tượng hoá: Trừu tượng hoá là thao tác tư duy nhằm gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết và chỉ giữ lại các yếu tố cần thiết cho tư duy. Sự phân biệt bản chất hay không bản chất ở đây chỉ mang nghĩa tương đối, nó phụ thuộc mục đích hành động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo Cho Học Sinh Trung Học Cơ Sở Qua Bài Tập Tứ Giác" tập trung vào việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua các bài tập liên quan đến tứ giác. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy sáng tạo trong giáo dục, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy độc lập và giải quyết vấn đề. Bài viết cung cấp các phương pháp và bài tập cụ thể, từ đó khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập.

Để mở rộng thêm kiến thức về tư duy sáng tạo và các phương pháp giảng dạy hiệu quả, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập giải hệ phương trình nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh khá giỏi lớp 9 trường trung học cơ sở", nơi cung cấp các bài tập nâng cao cho học sinh. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy chuyên đề tỉ lệ thức ở trường trung học cơ sở" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách áp dụng tư duy sáng tạo trong các chuyên đề học tập. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn rèn luyện kĩ năng suy luận cho học sinh trong dạy học hình học lớp 8" sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc phát triển tư duy logic và suy luận cho học sinh. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp giáo dục hiện đại.