Phần mở đầu: Nêu lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, giả thiết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, giới hạn của đề tài, phương pháp nghiên cứu. Phần nội dung: Nêu cơ sở lý luận và thực tiễn; những biện pháp nhằm phát huy năng lực sáng tạo cho HS trong trong dạy học tác phẩm trữ tình ở cấp trung học cơ sở; thực nghiệm sư phạm. Phần kết luận chung: tổng kết lại nội dung luận văn. 15 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH Ở CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Năng lực và năng lực sáng tạo 1. Khái niệm về năng lực Năng lực là một khái niệm then chốt chi phối việc đổi mới căn bản chương trình giáo dục mới. Có rất nhiều quan niệm về năng lực. Nội hàm khái niệm năng lực cũng tùy vào cách tiếp cận và lĩnh vực áp dụng mà hiểu khác nhau.
Theo cách hiểu của Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì: Năng lực là:1. Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao [38,102]. Trong cuốn Giúp bạn chọn nghề, NXB Giáo dục, 1989 nhà nghiên cứu tâm lý học Phạm Tất Dong đã quan niệm: Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người đáp ứng yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết qủa cao [16,24].Còn trong bài Phát triển chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn theo hướng tiếp cận năng lực đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam, TS.
Nguyễn Thị Hồng Vân đã xác định: Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, … nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Theo Tài liệu hội thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục mới của Bộ giáo dục và Đào tạo thì: “Năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định” [5,11]. Tiến sĩ Bùi Minh Đức trong bài viết “Năng lực” và vấn đề phân loại “năng lực” trong các nghiên 16 cứu hiện nay đã cho rằng: “Năng lực là khả năng thực hiện (performance), làm việc dựa trên hiểu biết chắc chắn, kỹ năng thuần thục và thái độ phù hợp. Năng lực là những kiến thức (knowledge), kỹ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân”.
Trong đề tài nghiên cứu khoa học Phát triển chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học (Lương Việt Thái, Nguyễn Hồng Thuận, Phạm Thanh Tâm) thì “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [40,18-19]. Tuy cách phát biểu về năng lực có thể khác nhau nhưng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của khái niệm này: Năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống (học tập và lao động). Đó là cách tiếp cận mới nhưng không xa lạ mà nó vốn đã có trong chương trình cũ nhưng chưa được hiểu đúng bởi các thành tố cơ bản cấu thành năng lực vẫn là kiến thức và kỹ năng. Vì thế muốn hình thành năng lực vẫn phải thông qua kiến thức và kỹ năng.
Tuy nhiên, nếu chỉ mình kiến thức và kỹ năng, nhất là khi chúng tách rời nhau thì chưa thể có năng lực thực sự. Do đó có thể thấy rằng để hình thành, phát triển năng lực cho HS, việc dạy học trong nhà trường không chỉ dừng ở nhiệm vụ trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng thái độ sống đúng đắn mà còn phải làm cho những kiến thức sách vở trên lớp được thực hành, ứng dụng trong đời sống ngay trên ghế nhà trường; làm cho thái độ sống được giáo dục qua mỗi bài học có điều kiện, môi trường để bộc lộ, hình thành, phát triển qua các hành vi ứng xử, trở thành phẩm chất bền vững của mỗi HS. Việc đánh giá vì vậy sẽ phải chuyển từ kiểm tra kiến thức, thao tác kĩ thuật và nhận thức tư tưởng đơn thuần sang đánh giá sự hiểu biết, khả năng thực hành, ứng dụng và hành vi ứng xử của HS trong cuộc sống. Ví dụ đáng giá năng lực của HS 17 trong việc học tác phẩm văn chương sẽ không tập trung vào kiểm tra kiến thức về tác gia, tác phẩm hay những vấn đề về lịch sử và lý luận văn học như hiện nay mà đưa ra các công cụ để đánh giá mức độ đọc hiểu, cảm thụ thẩm mỹ và cảm xúc của HS trước các hình tượng, cảnh ngộ được phản ánh trong tác phẩm, kể cả những tác phẩm chưa được học trong chương trình.
Quan niệm về năng lực sáng tạo và các biểu hiện của năng lực sáng tạo ở HS Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của HS trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để thực hiện ý tưởng. Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, HS bộc lộ óc tò mò, niềm say mê tìm hiểu, khám phá. Năng lực sáng tạo được thể hiện qua những biểu hiện sau: - Biết đặt các câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng; xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau. - Đề xuất được ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất.
- Trình bày những suy nghĩ và khái quát hóa thành tiến trình khi thực hiện một công việc nào đó; tôn trọng các quan điểm trái chiều; áp dụng những điều đã biết vào những tình huống tương tự. Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu mà môn ngữ văn hướng tới. Năng lực này được thể hiện trong việc xác định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của HS trước một vẻ đẹp, một giá trị cuộc sống. Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khao khát được tìm hiểu của HS, không theo lối mòn, 18 theo công thức.
Trong các giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao là HS với tư cách là người đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm. Tác phẩm văn chương tạo tiền đề trong việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS a. Những đặc trƣng trong hoạt động sáng tác của nhà văn khơi gợi sự sáng tạo của ngƣời đọc a1. Sức tƣởng tƣợng sáng tạo của nghệ sĩ đòi hỏi hoạt động tƣởng tƣợng sáng tạo của bạn đọc Tưởng tượng là một phẩm chất quý giá của con người.
Vì vậy trong đời sống, trong hoạt động nhận thức hay trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật đều có sự tham gia của tưởng tượng.Lênin đã viết: “Trong mọi sự khái quát dù đơn giản nhất, trong một ý niệm dù đó là sơ đẳng nhất cũng đều có một mẫu nhất định của trí tưởng tượng”. Còn trong công trình nổi tiếng của mình, viện sĩ S.Krachenko khi bàn về tưởng tượng cũng đã trích dẫn câu nói nổi tiếng của Pautôpxki: “Trí tưởng tượng đã tạo ra luật vạn vật hấp dẫn, tạo ra thiên truyện buồn thảm Tristan và Iseut, đã tạo ra sự phá vỡ nguyên tử, đã tạo ra tòa trụ sở của Bộ hải quân Lêningrat, họa phẩm Mùa thu vàng của Lêvitan, bài ca Maselin, vô tuyến điện, ánh sáng điện, hoàng tử Hămlet, thuyết tương đối và bộ phim Bom bi. Nếu không có trí tưởng tượng thì tư tưởng của con người sẽ vô tích sự cũng như trí tưởng tượng sẽ vô tích sự nếu không có hiện thực”. Trong sáng tác nghệ thuật, vai trò của tưởng tượng lại càng to lớn và quan trọng.
Nhà tâm lý sáng tác Axâytlin coi: “Sức tưởng tượng hay sức hình dung là đặc trưng đầu tiên và có thể nói là đặc trưng đặc biệt nhất của tâm lý nhà văn”.Gorki coi sức tưởng tượng như “một trong những biện pháp quan trọng nhất của kỹ thuật xây dựng hình tượng văn học”. Như vậy sức tưởng tượng sáng tạo là đặc trưng đặc biệt nhất của tâm lý nhà văn và từ lâu đã được ghi nhận như một chân lý. Sở dĩ nói sức tưởng 19 tượng và sáng tạo có vai trò quan trọng và trở thành đặc trưng đầu tiên và đặc trưng đặc biệt trong quá trình sáng tác của người nghệ sĩ là bởi nếu thiếu nó, sáng tác của nhà văn sẽ trở thành việc sao chép cuộc sống một cách hời hợt và buồn tẻ. Đồng thời nhà văn không thể nào xây dựng được một hình tượng nghệ thuật có giá trị.
Sức tưởng tượng sáng tạo kỳ diệu còn làm nên sức sống mãnh liệt của tác phẩm trong lòng người đọc qua nhiều thời đại, tạo nên thế giới nghệ thuật riêng không thể nhầm lẫn của nhà văn.