CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. KĨ NĂNG VÀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TRONG MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1. Kĩ năng “Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn. Trong đó, khả năng được hiểu là: sức đã có (về một mặt nào đó) để thực hiện một việc gì” [2, tr.
Theo tâm lý học, kĩ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành động nào đó theo một mục đích trong những điều kiện xác định. Nếu tạm thời tách tri thức và kĩ năng để xem xét riêng từng các tri thức thuộc phạm vi nhận thức, thuộc và khả năng “biết”, còn kĩ năng thuộc phạm vi hành động, thuộc về khả năng “biết làm”. Các nhà giáo dục học cho rằng: “Mọi kiến thức bao gồm một phần là thông tin kiến thức thuần túy và một phần là kĩ năng” [6, tr13]. Kĩ năng là một nghệ thuật, là khả năng vận dụng những hiểu biết ở mỗi người để đạt được mục đích.
Kĩ năng còn có thể được đặc trưng như một thói quen nhất định và cuối cùng kĩ năng là khả năng làm việc có phương pháp. “Trong toán học, kĩ năng là khả năng giải các bài toán, thực hiện các chứng minh đã nhận được. Kĩ năng trong toán học quan trọng hơn nhiều so với kiến thức thuần túy, so với thông tin trơn” [15, tr. Luận văn tiếp cận kĩ năng theo hướng: Kĩ năng là năng lực thực hiện các công việc có kết quả trong đó bao hàm cả quan niệm kĩ năng là kỹ thuật hành động.
Nghĩa là, muốn có kĩ năng trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết về nội dung công việc mà kĩ năng hướng tới và tri thức về bản thân kĩ năng như quy trình hành động từng thao tác riêng lẻ cho đến khi thực hiện một hành động đúng với mục đích đề ra. Như vậy, con người chỉ có thể hành động có hiệu quả khi biết sử dụng tri thức và vận dụng tri thức trong hành động để thực hiện nhiệm vụ tương ứng. Từ những nghiên cứu về kĩ năng, tôi hiểu: Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hành động nào đó trong những điều kiện nhất định, bằng cách vận dụng và lựa chọn những tri thức và kinh nghiệm đã có. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với định nghĩa này, tôi nhận thấy việc hình thành và phát triển các kĩ năng chỉ có thể đạt được thông qua các hoạt động rèn luyện có mục đích cụ thể, phù hợp với kĩ năng đó.
Việc hình thành và phát triển các kĩ năng là một quá trình chứ không phải là một số bước đơn lẻ; hình thành và phát triển kĩ năng bao gồm cả hướng dẫn cũng như cơ hội thực hành để vận dụng. Trong thực tế dạy học cho thấy, HS thường gặp khó khăn khi vận dụng kiến thức vào giải quyết các bài tập cụ thể là do: HS không nắm vững kiến thức, các khái niệm, định lí, quy tắc, không trở thành cơ sở của kĩ năng. Muốn hình thành được kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng giải toán cho HS, người thầy giáo cần tổ chức cho HS học toán trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo để HS có thể nắm vững tri thức, có kĩ năng và sẵn sàng vận dụng vào thực tiễn. Góp phần thực hiện nguyên lý của nhà trường phổ thông là: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.
Kĩ năng giải toán “Kĩ năng giải toán là khả năng vận dụng các tri thức toán học để giải các bài tập toán (bằng suy luận, chứng minh)” [4; tr. Để rèn luyện kĩ năng giải toán trường THPT, một trong những yêu cầu được đặt ra là: “Về tri thức và kĩ năng, cần chú ý những tri thức, phương pháp đặc biệt là tri thức có tính chất thuật toán và những kĩ năng tương ứng. Chẳng hạn: tri thức và kĩ năng giải bài toán bằng cách lập PT, tri thức và kĩ năng chứng minh toán học, kĩ năng hoạt động và tư duy hàm…” [10, tr. Cần chú ý là tùy theo nội dung kiến thức toán học mà có những yêu cầu rèn luyện kĩ năng khác nhau.
Do tính trừu tượng trên nhiều bình diện của Toán học nên trong dạy học môn Toán ta cần quan tâm rèn luyện cho HS những KN trên những bình diện khác nhau. - KN vận dụng tri thức trong nội bộ môn Toán. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - KN vận dụng tri thức toán học vào trong những môn học khác. - KN vận dụng toán học vào đời sống.
KN trên bình diện thứ nhất là sự thể hiện ở mức độ thông hiểu tri thức toán học. Không thể có một người thông hiểu tri thức toán học mà lại không biết vận dụng vào làm toán. KN trên bình diện thứ hai thể hiện ở vai trò công cụ của toán học đối với các môn học khác thường là những môn gắn bó với thực tiễn nhiều hơn môn Toán. KN trên bình diện thứ ba là mục tiêu quan trọng của môn Toán.
Nó cho thấy rõ mối liên hệ giữa Toán học và đời sống. Trong quá trình dạy toán ở chương trình phổ thông rèn luyện KN trên bình diện thứ nhất là rất quan trọng. HS ngày càng có khả năng giải toán ban đầu là những bài cơ bản, sau đó là những bài toán khó hơn nói lên sự thành công về mặt dạy học. KN Toán học được hình thành và phát triển thông qua việc thực hiện các hoạt động Toán học và các hoạt động học tập trong môn Toán.
KN có thể được rút ngắn, bổ sung, thay đổi trong quá trình hoạt động. Dạy học toán ở trường phổ thông có các tình huống điển hình là dạy học khái niệm, dạy học định lý, dạy học bài tập toán học. Sau quá trình dạy định lý cần cho HS làm các bài tập áp dụng từ dễ đến khó, qua đó HS dần hình thành được KN cho riêng mình. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành kĩ năng * Nội dung của bài tập, nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa sẵn sàng hay bị che phủ bởi những yếu tố phụ làm chệch hướng tư duy có ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng.
Trong không gian cho hai mặt phẳng ( ),( ) vuông góc với nhau theo giao tuyến d. Trên d lấy A, B sao cho AB a , M là một điểm trên mặt 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phẳng ( ) sao cho MA vuông góc với ( ) và MA a. Một mặt phẳng (P) đi qua M và song song với d và cắt ( ) theo giao tuyến t. M a 2 Khoảng cách từ A đến (P) bằng.
Tính 2 K diện tích tứ giác ABCD theo a , biết rằng đoạn A d CD a di động trên giao tuyến t. B t D H C Bài toán này nếu tuần tự vẽ hình theo Hình 1.1 yêu cầu giả thiết thì rất rối và phức tạp. Để giải được bài này đỏi hỏi phải có kĩ năng phân tích đề và phân biệt được thông tin nào là quan trọng, chính yếu, thông tin nào là gây nhiễu. Vì MA vuông góc với ( ) nên mặt phẳng ( ) chứa MA là gây nhiễu.
Mặt phẳng (P) //d nên suy ra d // t. Vì vậy, khi đoạn CD di động trên t thì luôn có ABCD là một hình bình hành, đây là thông tin quan trọng và việc CD di chuyển trên t cũng là thông tin gây nhiễu. Bài toán dẫn đến tính đường cao hình bình hành ABCD hay tính khoảng cách từ A đến t, điều này dựa vào khoảng cách từ A đến (P) đã cho. * Tâm thế và thói quen cũng ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng.
Vì thế, tạo ra tâm thế thuận lợi trong học tập sẽ giúp cho HS dễ dàng trong việc hình thành kĩ năng. * Có khả năng khái quát đối tượng một cách toàn thể. Nhà toán học vĩ đại Gauss khi lên 6 tuổi đã giải bài toán: tìm tổng các số tự nhiên từ 1 tới 100, bằng cách tìm thấy tổng hai số đối xứng với số ở giữa đều bằng nhau, từ đó, Gauss đi đến đáp số bài toán một cách dễ dàng: 100 (100 1).(số cặp) * Biết quy lạ về quen, đưa các dạng bài tập về mô hình các bài tập quen thuộc. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Biết khái quát hoá, đặc biệt hoá.
* Tần số và số lần luyện tập. Sự hình thành kĩ năng Thực chất của việc hình thành kĩ năng trong dạy học chính là cho HS nắm vững và thực hiện một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập và đối chiếu chúng với những hoạt động cụ thể. Muốn vậy, trong dạy học, GV cần phải: + Trang bị tri thức, đặc biệt là tri thức phương pháp để HS hiểu được mục đích của hành động, biết được điều kiện, cách thức để đi đến kết quả, để thực hiện hành động. Đồng thời các em hiểu những điều kiện để triển khai các cách thức đó.
+ Tổ chức HS luyện tập qua từng thao tác riêng rẽ trong hoạt động (tương ứng với kĩ năng cần có), cho đến khi thực hiện được hành động theo đúng mục đích, yêu cầu đặt ra. + HS đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra thông qua quá trình tiến hành hoạt động. + HS tiếp tục tập luyện để có thể hành động có hiệu quả trong những điều kiện khác nhau. Cần chú ý rằng: HS có thể tiến hành hoạt động bắt chước theo mẫu, tuy nhiên rèn luyện để hình thành kĩ năng thì cần phải trải qua thời gian đủ dài với số lần tập luyện hoạt động cần thiết.
Chỉ sau rất nhiều lần thực hành, HS mới có thể thực hiện một kĩ năng một cách nhanh nhẹn và chính xác. Vấn đề rèn luyện kĩ năng trong môn Toán Để rèn luyện kĩ năng về dạy học trong môn Toán, GV cần: * Tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên và các sách tham khảo. * Tìm hiểu đối tượng HS, trước hết là những lớp mà mình chịu trách nhiệm. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Lập kế hoạch dạy học, chuẩn bị từng tiết lên lớp.
* Tiến hành một giờ dạy Toán, thực hiện kiểm tra đánh giá HS. * Tiến hành các hoạt động ngoại khóa môn Toán, bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ các HS yếu kém.