CHƯƠNG 1 CO SO Li LUAN VE REN LUYEN Ki NANG CHO HỌC SINH TRONG VAN DUNG TINH DON DIEU CUA HAM SO DE CHUNG MINH BAT DANG THUC DAI SO TRONG TAM GIAC. Khái niệm kĩ năng Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kĩ năng, cụ thể như một số quan điểm sau: Ki nang (Tiéng Anh: Skill; Tiéng Phap: Capacité) ( theo Wikipedia Tiếng Việt) là khả năng của con người trong việc vận dụng kiến thức đề thực hiện một nhiệm vụ nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, giải quyết vẫn đề tô chức, quản lý và giao tiếp.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [5, tr. Theo ông, người có kĩ năng hành động là người phải năm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Cũng theo tác giả, con người có kĩ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng các kiến thức ấy vào thực tế.
Theo Vũ Dũng thì: “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ung” [2, tr. Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Kĩ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động ” [11, tr. Mỗi kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động. Quá trình thực hiện một kĩ năng nào đó luôn được kiểm tra bằng ý thức, tức là khi thực hiện bất kì một kĩ năng nào đều nhằm vào việc đạt được một mục đích nhất định.
Từ những ý kiến trên ta thấy, có thê định nghĩa kĩ năng một cách khái quát nhất như sau: Kĩ năng là khả năng của cá nhân đề thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức đúng đắn, cách thức hành động hợp lí để đạt được mục đích đã dé ra. Vậy, kĩ năng là khả năng hay năng lực của con người để thực hiện thuần thục một hay một chuỗi các hành động trên cơ sở kiến thức hoặc kinh nghiệm của mình nhằm tạo ra đạt được mục đích đã đề ra. Đặc điểm của kĩ năng Ta thường chú ý đến các đặc điểm của kĩ năng trong quá trình dạy học như sau: - Để hình thành một kĩ năng nào đó ta phải dựa trên cơ sở những kiến thức đã biết, bởi vì cấu trúc của kĩ năng bao gồm: Hiểu mục đích - biết cách thức, từ đó dẫn đến kết quả mong đợi - tức là nắm được những điều kiện để triển khai những cách thức đó. - Kiến thức chính là cơ sở của kĩ năng, bởi vì kiến thức sẽ phản ánh đầy đủ các thuộc tính, bản chất của đối tượng, kiến thức đã được thử nghiệm trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức con người với tư cách của hành động.
- Muốn rèn luyện kĩ năng về hành động thì phải: + Xác định được mục đích của hành động thông qua việc nam vững kiến thức. Tức là phải biết được điều kiện, cách thức, con đường đi đến kết quả, từ đó mới có kĩ năng thực hiện được hành động. + Sau đó tiến hành hành động theo những yêu cầu đã đặt ra. + Đánh giá xem kết quả đạt được có phù hợp với mục đích đặt ra.
+ Hiệu quả của hành động có thể sẽ khác nhau nếu ta thực hiện trong các điêu kiện khác nhau. + Ta cũng có thể bắt chước, rèn luyện để hình thành kĩ năng nhưng phải có đủ thời gian chuẩn bị. Thực tế cho thấy, trong quá trình vận dụng những khái niệm và những kiến thức đã lĩnh hội được để áp dụng vào giải quyết các nhiệm vụ cụ thể, học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, học sinh không tự phát hiện được những dấu hiệu đặc trưng của tri thức có liên quan đến đối tượng, nên càng khó nhận ra những bản chất của đối tượng.
Khi đó, tri thức không thể biến thành công cụ của hoạt động nhận thức được. Như vậy kiến thức mà học sinh đã lĩnh hội được là khối kiến thức khô cứng, không gắn với thực tiễn và không thể biến thành cơ sở của kĩ năng. Như chúng ta đã biết, tri thức về các sự vật rất đa dạng và phong phú, tất cả các thuộc tính bản chất vốn có của sự vật đều được phản ánh qua đó. Vì vậy muốn tri thức trở thành cơ sở cho các hành động thì giáo viên cần phải hướng cho học sinh biết lựa chọn tri thức một cách đúng đắn và hợp lý nhất, nói cách khác, cần lựa chọn tri thức phản ánh thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng phù hợp mục tiêu của hành động.
Trong quá trình dạy học, bản thân tôi đã gặp nhiều học sinh nắm được hết lý thuyết nhưng không biết áp dụng những kiến thức này vào làm bài tập, nghĩa là học sinh loay hoay không biết lựa chọn kiến thức nào để giải quyết bài toán. Điều này chứng tỏ chưa hình thành được kĩ năng cho học sinh. Sự hình thành kĩ năng Quá trình hình thành kĩ năng diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, sự kết nối bền vững hay lỏng lẻo phần lớn đều phụ thuộc vào mong muốn, ý chí và năng lực tiếp nhận của người học. Ngoài ra còn phụ thuộc vào cách thức luyện tập và mức độ phức tạp của chính kĩ năng đó.
Dù hình thành kĩ năng theo mức độ, con đường nào, thì quá trình hình thành kĩ năng cũng đều phải tuân thủ theo các bước sau đây: - Hình thành theo mục đích: Khi đó chủ thể tự mình trả lời câu hỏi “Tại sao tôi phải sở hữu kĩ năng đó?”; “Sở hữu kĩ năng đó tôi có lợi gì?”. - Lập kế hoạch đề tạo kĩ năng đó. Người học phải sắp xếp, cân nhắc đề lập ra kế hoạch hành động. Cần phải có những kế hoạch chỉ tiết và cũng có thể có những kế hoạch đơn giản như là “tôi bắt đầu luyện kĩ năng đó từ hôm nay”.
- Cập nhật, tổng hợp các kiến thức liên quan đến kĩ năng cần rèn luyện. Ta cũng có thể thu nạp những kiến thức đó thông qua sách vở hoặc qua các kênh thông tin khác. Phần lớn thì những kiến thức này chúng ta được học từ trường lớp và từ bạn bè của mình. - Ta có thê luyện tập kĩ năng ngay trong các công việc thường ngày, luyện ở trên lớp với giáo viên hoặc tự mình luyện tập.
- Phải có quá trình ứng dụng và hiệu chỉnh các kĩ năng. Để thành thạo một ki nang nao do, chung ta cần phải có thời gian để ứng dụng nó trong cuộc sống và công việc. Từ đó có thể hiệu chỉnh cho phù hợp với thực tế công việc và cuộc sống thường ngày. Trong thực tế công việc và cuộc sống luôn luôn biến đồi nên quá trình hiệu chỉnh phải được diễn ra thường xuyên, liên tục để ki nang cua chúng ta ngày càng được hoàn thiện hơn.
Khi kĩ năng của bạn được hoàn thiện thì cũng có nghĩa là bạn đang hoàn thiện chính bản thân mình. Kĩ năng chỉ được hình thành thông qua quá trình tư duy các hiểu biết của mình, thông qua sáng tạo để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra. Vậy để hình thành được kĩ năng thì ta phải nắm chắc các kiến thức liên quan, đó là cơ sở cho việc hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng lẻ cho đến khi thực hiện được hành động theo đúng mục đích yêu cầu. Quá trình tư duy điễn ra nhờ các thao tác tìm tòi, phân tích sự vật, hiện tượng, tổng hợp các kết quả, trìu tượng hóa và khái quát hóa sự vật, hiện tượng cho đến khi hình thành được mô hình về mặt nào đó của đối tượng, mang ý nghĩa bản chất đối của đối tượng.
Có thể có nhiều cách thức đề dạy cho học sinh kĩ năng như: Con đường thứ nhất: Truyền thụ cho học sinh những tri thức cần thiết của kĩ năng rồi sau đó đề ra các bài toán thích hợp nhằm vận dụng những tri thức ấy. Từ đó học sinh sẽ phải tìm tòi cách giải bài toán bằng các thử nghiệm về tri thức. Những thử nghiệm này có thê đúng đắn hoặc sai lầm. Qua đó phát hiện ra các định hướng thích hợp để đưa ra cách thức cải biến thông tin và những thủ thuật hoạt động.
Con đường thứ hai: Dạy cho học sinh nhận biết được các dấu hiệu đề từ đó có thể xác định được cách giải cho một dạng và vận dụng cách giải đó vào bài toán cụ thể. Con đường thứ ba: Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách phân tích, sắp xếp hiệu quả việc vận dụng tri thức. Trong quá trình này giáo viên không chỉ định hướng cho học sinh cách tìm hiểu để chọn lọc các dấu hiệu đặc trưng và các thao tác cần thiết mà còn tô chức cho học sinh các hoạt động thích hợp để cải biến và sử dụng những thông tin thu được nhằm giải quyết bài toán đặt ra. Trong giai đoạn này những định hướng của kiến thức được đưa ra cho học sinh đưới dạng có sẵn, được vật chất hóa dưới dạng sơ đồ, kí hiệu, còn thao tác và các mốc định hướng thì được thực hiện bởi những hình thức, những hành động thích hợp đối với đối tượng.
Sau đó, các hoạt động này được cụ thê hóa bằng các kí hiệu và cách sử dụng ngôn ngữ. Như vậy giáo viên đã định hướng cho học sinh: Để giải quyết các bài toán trước hết phải phân dạng bài tập và tìm kiến thức liên quan sau đó hình thành cách giải bài toán qua các giai đoạn cụ thể. Từ đó đã hình thành cho học sinh các phương pháp giải toán phù hợp. Tuy nhiên để học sinh hiểu sâu hơn và có thé mở rộng ra nhiều bài toán khác, giáo viên cần cho học sinh khai thác bài toán theo hướng: Tìm các cách giải khác nhau để so sánh, rồi cho học sinh tổng quát hóa bài toán, nêu lên phương pháp chung cho dạng bài.
Giáo viên cũng có thể gợi ý cho học sinh hướng trừu tượng hóa, tương tự hóa bài toán. Khi đó, các kĩ năng tư duy suy luận logic của học sinh cũng được rèn luyện. Trong quá trình hình thành những trị thức mới học sinh đều phải trải qua các giai đoạn này. Tuy nhiên trong quá trình dạy học những giai đoạn này không được tổ chức một cách có ý thức.