Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu, là phần làm rõ bối cảnh chính sách, vấn đề chính sách, câu hỏi chính sách, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tiếp theo là Chương 2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày những cơ sở lý luận và những nghiên cứu thực nghiệm mang tính tham khảo cho nghiên cứu. Chương 3 Kết quả nghiên cứu có 3 nội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- dung chính là: hiệu quả của các chính sách hỗ trợ phát triển GDMN; các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu; và một số phát hiện chính.
Cuối cùng là Chương 4 Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận Công ước Quyền trẻ em quy định trẻ em có quyền được giáo dục (Điều 28) và quyền được phát triển tối đa tiềm năng của mình (Điều 29). Hỗ trợ cho các quyền này là các Cam kết về Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và Giáo dục cho mọi người.
Với những cam kết này, trẻ em ở cấp tiểu học và mầm non đều có quyền được đi học bất kể điều kiện kinh tế hay thành phần dân tộc. Các chính sách của các quốc gia đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục. Các đối tượng chính sách trong đó có trẻ em DTTS được đảm bảo có cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng với tất cả các trẻ em khác. Giáo dục là hàng hóa tư, có tính tranh giành và tính loại trừ.
Tuy nhiên đây là loại hàng hóa có ngoại tác tích cực và được khuyến dụng nên hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có các chính sách ưu tiên phát triển giáo dục. Nhà nước can thiệp chính sách nhằm phát triển giáo dục, giảm thiểu thất bại thị trường, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả. Nhà nước có thể hỗ trợ về tiền, vật chất cho các đối tượng để học tiếp cận tốt hơn với giáo dục hoặc nhà nước thực hiện việc đầu tư đối với giáo dục. Ở một mặt khác, khi thực thi các chính sách, nhà nước cũng có thể có những thất bại của nhà nước.
Những thất bại của nhà nước có thể làm trầm trọng hơn vấn đề mà nhà nước can thiệp. Chính sách can thiệp hoặc không hiệu quả hoặc không công bằng hoặc cả hai. Đối với những chính sách hỗ trợ cho GDMN, tính công bằng lại càng trở nên quan trọng bởi giáo dục vẫn luôn được coi là quyền lợi của tất cả các đối tượng, các nhóm trẻ trong độ tuổi đi học. Bởi vậy, việc can thiệp chính sách phải đảm bảo cơ hội tiếp cận GDMN cho tất cả các nhóm trẻ.
Trong nhiều trường hợp, tính công bằng còn được đề cao hơn cả tính hiệu quả bởi trên thực tế đây là hai mục tiêu không cùng song hành. Các nghiên cứu thực nghiệm Các nghiên cứu về lợi ích của GDMN đều chỉ ra rằng GDMN không chỉ có tác dụng tốt đối với sự phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ mà còn có tác động làm tăng thu nhập của đối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- tượng được thụ hưởng GDMN khi họ trưởng thành. Đồng thời GDMN cũng góp phần làm tăng nguồn lực vốn con người, đóng góp vào tăng trưởng và phát triển của xã hội. Schweinhart (2005): những người ở độ tuổi 40 có tham gia chương trình GDMN thì có thu nhập cao hơn, khả năng có việc làm cao hơn, tỷ lệ tội phạm ít hơn, tốt nghiệp trung học nhiều hơn nhóm không tham gia học mầm non.
Jennifer Baxter và Kelly Hand (2013) rút ra kết quả nghiên cứu: các gia đình có điều kiện khó khăn về kinh tế hoặc ở các khu vực hẻo lánh, khó khăn về điều kiện giao thông, thiếu thốn các dịch vụ xã hội sẽ có tỷ lệ con em tham gia các chương trình giáo dục thấp hơn so với các gia đình có điều kiện thuận lợi hơn. Cha mẹ của trẻ có trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém hoặc nghiện ngập cũng có xu hướng ít cho trẻ đến trường hơn. Hai tác giả chỉ ra những yếu tốt ảnh hưởng đến việc cho trẻ tham gia GDMN bao gồm: chi phí học tập, thu nhập của phụ huynh, quan điểm về việc nên để trẻ ở nhà hay gửi trẻ nào là tốt hơn. UNESCO (2007) nhấn mạnh việc “Cần xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng trong cung cấp GDMN tại khu vực Đông Á” đồng thời chỉ ra mục tiêu về GDMN có tác động quan trọng đối với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ: xóa đói giảm nghèo, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, tăng cường bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ và các mục tiêu về y tế khác.
Báo cáo nêu rõ việc tăng ngân sách chính phủ cho GDMN và việc áp dụng cách tiết cận phát triển toàn diện trong giáo dục, y tế và dinh dưỡng là những bước khởi đầu để xây dựng những thành tố chăm sóc và giáo dục toàn diện cho trẻ thơ. Các nghiên cứu được đề cập trong báo cáo cũng chỉ ra rằng GDMN thúc đẩy sự phát triển tình cảm và xã hội cũng như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của trẻ. UNESCO kiến nghị các quốc gia nên tập trung vào trẻ em dưới 3 tuổi. Sheldon Shaeffer, Giám đốc văn phòng giáo dục UNESCO tại Châu Á- Thái Bình Dương phát biểu: “Nhiều nước vẫn còn thiếu các chương trình về y tế, dinh dưỡng và chăm sóc giáo dục cho trẻ dưới 3 tuổi, một giai đoạn hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đứa trẻ”.
UNICEF (2010) chỉ ra rằng tỷ lệ học mầm non ở thành thị (75%) cao hơn ở nông thôn (51%); tỷ lệ học mầm non của trẻ em con nhà khá giả là 80% trong khi con số này ở trẻ em con nhà nghèo nhất chỉ đạt 36%. Kết quả điều tra mục tiêu trẻ em và phụ nữ (2006) cho thấy có rất nhiều em nhỏ đặc biệt là các em dưới 3 tuổi không được chăm sóc đầy đủ trong những năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- đầu đời. Hầu hết các em nhỏ này ở vùng nông thôn và ở những khu vực xa xôi hẻo lánh, đặc biệt là các em thuộc nhóm DTTS. Một nguyên nhân của vấn đề này là cha mẹ chưa nhận thức được giá trị của phát triển trẻ thơ.
Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân sâu xa hơn còn do cha mẹ có trình độ học vấn thấp, đặc biệt là người mẹ. Tỉ lệ đi học của các em có mẹ không đi học là 47%, chỉ học hết tiểu học là 52% trong khi tỉ lệ này của các em có mẹ học hết trung học cơ sở là 72%. Tỷ lệ này cao hơn (83%) ở con em của các bà mẹ đã học hết trung học phổ thông. Sự tương quan giữa tỉ lệ nhập học và trình độ học vấn của mẹ cho thấy những bậc cha mẹ có học thức sẵn sàng cho con cái đi học mầm non hơn các bậc cha mẹ có trình độ học vấn hạn chế và/hoặc họ cũng hiểu rõ hơn tầm quan trọng của GDMN.
Banerjee và Esther Duflo (2010) đã tổng hợp và đánh giá hiệu quả các chính sách đầu tư vào giáo dục của những khu vực nghèo nhất trên thế giới. Sau khi nghiên cứu tình huống của hai cách tiếp cận giáo dục từ “phía cung” (ủng hộ việc nhà nước tài trợ cho giáo dục) và “phía cầu” (để thị trường tự vận hành), hai tác giả rút ra kết luận là tài trợ cho giáo dục tại các khu vực rất nghèo là cần thiết. Nhưng hai tác giả cũng nhấn mạnh: không phải tất cả các chương trình hỗ trợ giáo dục đều thành công. Nhiều quốc gia đã nỗ lực xây dựng trường học, đào tạo giáo viên ở những vùng nghèo, áp dụng các chính sách miễn phí học tập nhưng vẫn không thu hút được học sinh đến trường như mong muốn.
Rào cản trong giáo dục không đơn thuần nằm ở các yếu tố mang tính kinh tế (thu nhập của cha mẹ, cơ sở vật chất của trường lớp.) hay hiểu biết đơn thuần của cha mẹ về hiệu quả của giáo dục (đi học là việc tốt nên làm). Mặt khác, hai tác giả cho rằng “hy vọng” cũng là một yếu tố quan trọng trong quyết định của cha mẹ trong việc cho con đi học hay không. Nếu cha mẹ trẻ tin tưởng vào sự thành công của con cái, họ sẽ quyết định cho con đi học. Ngược lại, mọi nỗ lực hỗ trợ để trẻ đi học sẽ hoàn toàn thất bại khi cha mẹ trẻ không có một chút hy vọng nào về sự tươi sáng trong tương lai của gia đình.
Hy vọng chính là một năng lực của các gia đình. Khái niệm liên quan Khái niệm Giáo dục mầm non Ủy ban Công ước về Quyền trẻ em định nghĩa “mầm non” là tất cả trẻ từ khi sinh ra, trải qua suốt giai đoạn mẫu giáo và chuyển tiếp lên tiểu học. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- Theo “Báo cáo giám sát toàn cầu giáo dục cho mọi người” của UNESCO năm 2007, một định nghĩa được quốc tế công nhận về giáo dục mầm non là bao gồm tất cả các chương trình mà ngoài việc chăm sóc trẻ còn cung cấp các hoạt động học tập có mục đích và hệ thống, dù là ở trường học chính quy hay không chính quy. Độ tuổi chính thức học mầm non ở hầu hết các nước là 3 tuổi.
Điều 21- Luật Giáo dục (2005) lại quy định: “Giáo dục mầm non là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.” Nghiên cứu này thống nhất về định nghĩa GDMN này. Khái niệm Tiếp cận giáo dục mầm non Theo Otero và McCoshan: tiếp cận trong giáo dục là sự tham gia vào mỗi giai đoạn học tập trong đời, trong đó sự tham gia có nghĩa là mỗi cá nhân có cơ hội để trải nghiệm việc học tập hay cơ hội đào tạo. Việc tiếp cận nhấn mạnh vào quyền được tham gia vào chương trình giáo dục hơn là việc thực hiện quyền này trong thực tế hay tầm quan trọng của việc hoàn thành chương trình học.
Baxter và Hand (2010) định nghĩa tiếp cận không đơn thuần chỉ đề cập đến số lượng trẻ tham gia vào chương trình GDMN mà còn là tạo cơ hội cho trẻ tham dự chương trình giáo dục, cung cấp đủ thời lượng chương trình để trẻ có thể học, cho phép trẻ trải nghiệm chương trình và các lợi ích thiết yếu của chương trình một cách đầy đủ.