Chương 1: Cơ sở lý luận về XĐMT, e-waste và các thiết chế nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng Chương 2: Trách nhiệm xử lý XDMT do e-waste của nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng tại VN Chương 3: Rào cản thực hiện cơ chế liên kết trách nhiệm giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong giải quyết XDMT do e-waste tại VN PHAN KET LUẬN Phu luc 10 PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE RAO CAN, XĐMT, E-WASTE VÀ CÁC THIET CHE NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CỘNG DONG 1. Khai niệm rào can và phân loại Định nghĩa rào cản được đề cập đến trong một số từ điển với nội hàm chỉ những đối tượng vật chất, hoặc những vật thé được sử dụng dé tách biệt, phân định ranh giới, hoặc là các chướng ngại vật nói chung’ (Theo từ điển bách khoa toàn thu Merriam Webster). Theo từ điển Ngôn ngữ tiếng Anh, rào cản có thé giải thích theo 7 ý nghĩa, như một dang cấu trúc vật chất được xây dựng dé ngăn trở việc vượt qua; là yêu tố phi vật chất với vai trò ngăn cản, gây trở ngại; trong lĩnh vực sinh lý học rào cản là một lớp màng, lớp mô, hoặc một cơ chế có khả năng ngăn cản quá trình chuyền đổi của một số chat; trong lĩnh vực sinh thái học rào can là yếu tố vật lý hoặc sinh học giới han sự di cư, sự giao phối hoặc những hành động tự do của các cá nhân hoặc cộng đồng: rào cản có thê là một làn ranh giới hoặc giới hạn, hoặc là thứ có khả năng tách biệt hoặc giữ khoảng cách; rào cản có thé dùng dé chỉ các dạng thanh chắn (cầu đường). Theo từ điển đa ngôn ngữ Kernerman, rào cản được định nghĩa là những gì được thiết lập dé bảo vệ hoặc ngăn trở, hoặc gây khó khăn”.
Cách diễn giải trên đều nhận diện đặc trưng của rào cản là bất cứ thứ gì (vật chất hoặc phi vật chất) có khả năng ngăn chặn, cản trở, gây trở ngại cho sự vượt qua một giới hạn hoặc duy trì sự tách biệt hoặc ngưỡng ranh giới nhất định. Cách phân loại thông dụng về rào cản được khá nhiều người chấp nhận gồm: rào cản nhận thức, rào cản cảm xúc, rào cản trí tuệ, rào cản diễn ngôn, rào cản môi trường, rào cản văn hóa. Luận văn này tập trung bàn về rào can liên kết trách nhiệm doi với BVMT và phát triển bền vững. Rào cán nhận thức tồn tại khi con người không thé nhận thức day đủ được vấn đề hoặc các thông tin dé có cách giải quyết phù hợp.
Rào cản nhận thức xuất hiện trong quá trình học hỏi dé tiếp nhận thông tin về thế giới khách quan của con người. Rao cản về cảm xúc xuất hiện khi những cảm xúc, tình cảm của con người xung đột với bối cảnh, hoàn cảnh cụ thể, do đó hạn chế khả năng phản ứng, và ra quyết định của con người. Rào cản này ton tại khi chúng ta nhận biết có sự tôn hại đến nhu cầu cảm xúc (loại nhu cầu khác biệt nhau về loại hình và cường độ ở mỗi cá nhân có thê là: nhu cầu vê thành công, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được ra mệnh lệnh, nhu cầu phụ thuộc và nhu cầu về lòng tự trọng. Rào cản trí tuệ xuất hiện khi con người không đủ khả năng dé hấp thụ thông tin, kiến thức cần thiết nhằm giải quyết vân đề nảy sinh).
Rào cản trí tuệ tồn tại khi con| người không có những ki năng tư duy cần thiết đề tìm ra giải pháp phù hợp cho các van dé nảy sinh, hoặc không thé sử dụng chúng một cách tối ưu. Rao can về diễn ngôn là sự khó khăn khi cá nhân hoặc nhóm người không thể giao tiếp, hay diễn đạtý muốn nói theo ngôn ngữ được sự thông hiểu của những người 7 http://www.com/medical/barrier * The American Heritage® Dictionary of the English Language, Fourth Edition copyright ©2000 by Houghton Mifflin Company. Published by Houghton Mifflin Company ? Kernerman English Multilingual Dictionary © 2006-2010 K Dictionaries Ltd: barrier: something put up as a defence or protection a barrier between the playground and the busy road, something that causes difficulty His deafness was a barrier to promotion. Rào cản môi trường xuất hiện do những trở ngại, chướng ngại trong môi trường tự nhiên hoặc xã hội cản trở việc con người đạt được hoặc giải quyết được những vẫn đề trong đời sống.
Rao can văn hóa xuất hiện khi những đặc trưng văn hóa biểu hiện qua hành vi được cho là khác thường, nằm ngoài những dự liệu về cách ứng xử văn hóa thông thường (theo tập tục, tập quán, theo nghi lễ, theo chuẩn mực xã hội. Rào cản văn hóa tồn tại khi việc giải quyết vấn đề gặp trở ngại bởi sự khác biệt giữa một bên cho rằng giải pháp đó là phù hợp với thông lệ, trong khi bên còn lại có ý kiến hoàn toàn trái ngược. Đứng trước một tình huống nan giải con người thường, có thói quen tạo lập các giải pháp hon là tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi của van đề (nếu một việc không hoàn thành thì ngay lập tức người ta sẽ đặt câu hỏi tại vì sao việc đó lại không được hoàn thành hơn là đặt câu hỏi vì sao việc đó cần phải hoàn thành). Con người là chủ thể sáng tạo song cũng là những cá nhân không thích sự thay đổi bởi thay đôi thường liên quan đến những yếu tố bất định, khó biết trước được kết quả có thể xảy ra.
Bên cạnh những rào cản mang tính văn hóa cá nhân, thì tồn tại những rào cản văn hóa mang tính đại chúng như rào cản do niềm tin, rào cản do định kiến, rào cản giữa hợp tác và bat hợp tác, rào cản do những điều cắm ky, rào cản do khác biệt về giá trị. Lý thuyết về rào cản bên cạnh sự đa dạng và phong phú trong cách phân tích và diễn giải khái niệm, thì việc phân loại rào cản và tìm hiéu về nguyên nhân của các rào cản còn khá ít ỏi. Do vậy hiện nay rào cản được nhận diện là những trở ngại, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thiết kế và thực thi các giải pháp nhằm ngăn trở sự vượt qua các giới hạn, chuẩn mực cho phép ở cả khía cạnh lý luận và thực tiễn. Các phân loại rào cản dù đã được đưa ra song vẫn có những phần còn trùng lặp về nội dung, do đó vẫn cần những nghiên cứu sâu hơn, hệ thống hơn về khái niệm này.
Một nhận thức sâu chuỗi trong đề tài này là rào cản và xung đột được đặt trong môi nguyên nhân và hệ quả, trong đó rào cản càng thúc đây những hoạt động bat hợp tác trong quản lý thì khả năng xảy ra và tính phức tạp của những xung đột ngày càng tăng cao là không thể tránh khỏi. Bởi tương tác này mà rào cản cũng được nhìn nhận như môi trường thuận lợi cho xung đột, và xung đột là hệ lụy tất yếu của sự phát triển các rào cản. Nghiên cứu này nhằm nhận diện rào can liên kết trách nhiệm trong BVMT là các nhân tố, hành vi gây khó khăn, vướng mắc, can trở sự hình thành “tính trội” trong hệ thống quan lý XĐMT của xã hội. Rao ran này xuất hiện khi nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng không tim được cách thức xử ly XPMT xuất phát những khác biệt về nhận thức, văn hóa và lợi ích trong hoạt động BVMT và phát triển bền vững.
XDMT và các khái niệm liên quan Ban chất của XĐMT Theo cách hiểu thông thường xung đột là trạng thái bất đồng, xích mích do sự đối lập, đối kháng về nhu cầu, giá trị và lợi ích thực tế hoặc trong nhận thức. Xung đột biểu hiện cho sự khác biệt trong quan điểm, cách thức hành động giữa các chủ thể về một đối tượng nhất định trong định hướng mục tiêu của mỗi bên, nó có thé là những đối kháng trực tiếp hoặc gián tiếp với những cấp độ khác nhau do nhiều tác nhân chi phối. Điều cần nhân mạnh ở đây là xung đột là một hiện tượng xã hội có tính tất yếu bao ham cả các tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển chung của vũ trụ. 12 Cơ sở chung của lý thuyết xung đột xã hội là tính chất không tương hợp giữa quyên lợi, địa vị xã hội chỉ phối các hành vi mỗi chủ thé tham gia xung đột.
Sự khác biệt giữa các nhu cầu, lợi ích, quyền thế làm cơ sở cho những đối kháng xảy ra, làm phân hóa xã hội tạo nên các tầng bậc quan hệ khác nhau. Xung đột xã hội có thể được đặt trong tầm kiểm soát nếu các bên liên quan nhận diện được các đường biên của sự mặc cả và nhân nhượng trong khuôn khô cam kết về lợi ich được đảm bảo giữa các bên. Do đó có thé nhận định xung đột xã hội là các quan hệ và các quá trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều cá nhân, hay nhóm có sự đối lập nhau trong những cách giải quyết vấn đề nhất định phát sinh từ sự không nhất trí về nhận thức, mục tiêu, lợi ích và quyền lực. Trong bình diện chung về các dạng xung đột xã hội, XDMT nôi lên như một sự kiện gây nhiều chú ý của các học giả bởi tầm quan trọng và tính cấp thiết của các van đề môi trường sau một giai đoạn phát trién không kiểm soát của nên kinh tế thế giới.
Khoảng giữa những năm 1980 nhà nghiên cứu Arthur Westing'”° đã khơi dậy những ý tưởng đầu tiên mở rộng khái niệm an ninh cô điển sang bao hàm các vấn đề mới như thay đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên. Nghiên cứu của Westing mở đầu bằng trường hợp các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, sau đó là cuộc chiến Algeria, các cuộc chiến chinh phục thuộc địa, các vùng lãnh thé, theo sau là cuộc nội chiến, chiến tranh ly khai thập kỉ 90 của thế kỷ XX. Ông cho rằng, điểm chung nổi bật của những cuộc chiến này là việc tranh giành tài nguyên thiên nhiên như nước, khí đốt, ngư trường, sản phẩm từ đất và bản thân đất đai. Những cuộc tranh luận có tính liên ngành trên diện rộng về khái niệm này gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong giới chuyên môn cũng như trong giới chính tri gia cho tới cuối thời kỳ chiến tranh lạnh.
Vẫn đề hàng đầu lôi kéo sự quan tâm của giới nghiên lúc đó là tìm câu trả lời cho câu hỏi: Có hay không và trong trường hợp nào môi trường sinh thái có thé đe doa đến an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu?