MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề toàn cầu đang có những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái tự nhiên và nhiều lĩnh vực sản xuất như nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,. từ đó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến con người. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng BĐKH là phát thải lớn lượng khí nhà kính (KNK) từ các hoạt động của con người, trong khi đó các bể hấp thụ các-bon như rừng tự nhiên ngày càng giảm.
Vì vậy, để ngăn chặn tình trạng gia tăng BĐKH đòi hỏi tất cả các quốc gia phải có những hành động thiết thực nhằm giảm phát thải KNK. Đã có rất nhiều các giải pháp từ chính sách đến kỹ thuật được đưa ra tại Hội nghị các bên (COP) hàng năm và các diễn đàn quốc tế phát triển khác. Nhiều cơ chế về giảm phát thải KNK đã được đề xuất và triển khai như cơ chế phát triển sạch (CDM), hệ thống buôn bán tín chỉ các-bon (ETS), hay các hành động giảm nhẹ phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA),. Bên cạnh đó, các công cụ gắn với thị trường như giải pháp nhãn sinh thái, nhãn xanh và nhãn các-bon cũng được thử nghiệm tại nhiều quốc gia.
Nhãn các-bon đối với các sản phẩm tiêu dùng lần đầu được triển khai tại Anh vào năm 2001, sau đó phát triển tới nhiều quốc gia khác. Nhiều nhiên cứu đã chỉ ra rằng việc dán nhãn các- bon lên các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đã góp phần giảm phát thải KNK. Tuy nhiên để nhãn các-bon trở thành công cụ hiệu quả trong việc giảm nhẹ phát thải KNK cần sự tham gia của các bên liên quan như nhà sản xuất, người tiêu dùng cũng như cơ quan quản lý. Một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của việc thông tin ghi trên nhãn các-bon có tác động đến hành vi người tiêu dùng [27].
Vì vậy, nhãn các-bon cần đề cập rõ ràng thông tin về lượng phát thải các- bon của sản phẩm thì người tiêu dùng mới có thể lựa chọn được sản phẩm ít phát thải hơn. Tại Việt Nam, vấn đề giảm phát thải KNK đã được đề cập trong Chiến lược quốc gia về BĐKH vào năm 2011 với mục tiêu “Phát triển nền kinh tế các-bon thấp, Tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển bền vững; 1 z Giảm nhẹ phát thải KNK và tăng khả năng hấp thụ KNK trở thành chỉ tiêu bắt buộc trong phát triển kinh tế - xã hội”. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (2012) đưa ra mục tiêu “Tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế các- bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ KNK dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội”, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng, giao thông và nông nghiệp. Các hành động giảm phát thải KNK chính thức được Chính phủ cụ thể hóa từ năm 2012 trong Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới (Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ).
Mục tiêu tổng thể của Đề án là quản lý phát thải KNK nhằm thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đồng thời tận dụng các cơ hội để phát triển nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh và cùng cộng đồng quốc tế nỗ lực giảm nhẹ phát thải KNK, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Trên phạm vi toàn cầu, tính đến ngày 28/02/2018, đã có 195 quốc gia ký Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (PA) và 175 quốc gia phê chuẩn PA. Theo Quyết định số 01/CP.21 của Hội nghị các Bên tham gia Công ước khí hậu lần thứ 21 (COP21), các Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDC) do các quốc gia đã phê chuẩn PA đệ trình trước đó sẽ trở thành Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). NDC là cam kết mang tính pháp lý về giảm nhẹ phát thải KNK đối với tất cả quốc gia đã phê chuẩn PA.
Chính phủ Việt Nam phê chuẩn PA tại Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 31 tháng 10 năm 2016 và NDC chính thức đầu tiên của Việt Nam được Công ước khí hậu công nhận từ ngày 03 tháng 11 năm 2016 (IPCC, 2017) 1. Theo đó, mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính mà NDC của Việt Nam đã đề ra gồm: Giảm tối 1 Ngày 30 tháng 9 năm 2015, Việt Nam đã gửi INDC của Việt Nam cho Ban thư ký Công ước khí hậu. 2 z thiểu 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường (BAU), nếu có thêm nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế, mục tiêu giảm phát thải KNK trong NDC là 25% so với BAU vào năm 2030. Hiện nay ở phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, đã có nhiều chương trình hành động từ vĩ mô đến vi mô nhằm giảm phát thải KNK, góp phần giảm mức độ gia tăng của nhiệt độ trái đất.
Trong đó có nhiều hành động, mục tiêu mang tính bắt buộc, tuy nhiên có nhiều giải pháp mang tính thị trường, tự nguyện cũng đang được các quốc gia xem xét và thúc đẩy phát triển trong đó có nhãn các-bon. Đến nay có nhiều nghiên cứu chỉ ra lợi ích của việc dán nhãn các-bon và sự hình thành các chương trình dán nhãn các-bon ở một số quốc gia trên thế giới [19, 20, 28, 33]. Tuy nhiên, người tiêu dùng cũng còn gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu những thông tin ghi trên nhãn. Việc dán nhãn các-bon lên một sản phẩm có thể giúp người tiêu dùng nhận biết lượng phát thải của sản phẩm đó (trong suốt vòng đời) nhưng họ không biết sản phẩm đó có thân thiện với môi trường hay không.
Bên cạnh đó, việc áp dụng nhãn các-bon có phù hợp với tất cả các nền kinh tế hay chỉ phù hợp với các quốc gia phát triển, nơi có mức sống cao và nhu cầu về sản phẩm thân thiện với môi trường lớn? Để áp dụng nhãn các-bon cần lựa chọn nhóm sản phẩm cụ thể hay có thể áp dụng cho toàn bộ các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ? Nguyên tắc nào để lựa chọn sản phẩm dán nhãn và hình thức nhãn các-bon như thế nào thì phù hợp với điều kiện của Việt Nam? Xuất phát từ thực tế trên tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu, đánh giá vai trò của dán nhãn các-bon trong giảm phát thải khí nhà kính: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”. Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nhãn các-bon, tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về chương trình dán nhãn các- bon. Từ đó đề xuất định hướng áp dụng dán nhãn các-bon ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài có mục tiêu chung: Nghiên cứu, đánh giá được vai trò của dán nhãn các-bon trong giảm phát thải KNK từ kinh nghiệm quốc tế và đề xuất bài học, 3 z định hướng dán nhãn các-bon cho các sản phẩm hàng hóa ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể: - Cung cấp được tổng quan về cơ cở lý luận và thực tiễn về nhãn các-bon - Tổng hợp được kinh nghiệm quốc tế về nhãn các-bon. - Rút ra được các học kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất một số định hướng cho Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài: nhãn mác của các sản phẩm tiêu dùng được sản xuất và tiêu dùng tại Việt Nam - Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Phạm vi là thị trường hàng hóa được sản xuất và trao đổi thương mại trên lãnh thổ Việt Nam. Vấn đề và giả thuyết nghiên cứu 4.
Vấn đề nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực hiện dán nhãn nhãn các-bon; - Tiềm năng áp dụng nhãn các-bon cho sản phẩm hàng hóa của Việt Nam. Giả thiết nghiên cứu - Giả thiết 1: Dán nhãn các-bon sẽ góp phần thúc đẩy giảm phát thải KNK thông qua sản xuất và tiêu dùng bền vững. - Giả thiết 2: Kinh nghiệm quốc tế về nhãn các-bon sẽ hữu ích cho Việt Nam trong việc ban hành các chính sách về dán nhãn các-bon. - Giải thiết 3: Nhãn các-bon sẽ là công cụ thị trường phù hợp nhằm góp phần thúc đẩy các nỗ lực giảm phát thải KNK ở Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu nêu trên, đề tài luận văn đã thực hiện các nội dung 4 z nghiên cứu chính sau: (1). Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về nhãn các-bon (2). Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam trong việc dãn nhãn các- bon (3). Khái quát các bài học kinh nghiệm và đề xuất một số định hướng áp dụng nhãn các-bon tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu 6. Phương pháp Ma trận Phương pháp ma trận là sự đối chiếu từng hoạt động của sản xuất với từng thông số hoặc thành phần môi trường để đánh giá mối quan hệ nguyên nhân và hậu quả. Trong nghiên cứu này, phương pháp ma trận được sử dụng để xác định những lợi ích mà nhãn các-bon mang lại, so sánh khác biệt giữa nhãn sinh thái và nhãn các-bon, Ưu điểm của phương pháp ma trận: Đánh giá tổng hợp được một tác động của hoạt động lên các yếu tố môi trường; Cho phép tổng hợp các hoạt động tác động lên một yếu tố môi trường; Cho phép đánh giá tác động của toàn bộ sản xuất; Cho phép lựa chọn các phương án; Xác định được vấn đề ưu tiên; Xác định được vấn đề cấp bách. Tiêu chí chọn vấn đề ưu tiên: Tiêu chí 1: Tính cấp bách; Tiêu chí 2: Khả năng huy động vốn; Tiêu chí 3: Khả năng thu hồi vốn; 5 z Tiêu chí 4: Phạm vi hoạt động sản xuất; Tiêu chí 5: Giải quyết công ăn việc làm.
Lợi ích của phương pháp ma trận: Phương pháp ma trận rất có giá trị cho việc xác định tác động của sản xuất và đưa ra được hình thức thông tin tóm tắt đánh giá tác động. Là phương pháp đơn giản, dễ sử dụng, không đòi hỏi nhiều số liệu môi trường nhưng lại có thể phân tích tường minh được nhiều hạnh động khác nhau lên cùng một nhân tố. Mối quan hệ giữa phát triển và môi trường được thể hiện rõ ràng. Có thể đánh giá sơ bộ mức độ tác động.