MỞ ĐẦU Làng nghề là một trong những nét văn hóa rất đặc trƣng của nƣớc ta. Hiện nay Đảng và nhà nƣớc ta đã chú trọng vào việc phát triển các làng nghề nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế- xã hội, giải quyết vấn đề việc làm tại các làng nghề đồng thời góp phần gìn giữ những ngành nghề truyền thống của Việt Nam đang bị mai một. Đƣợc sự quan tâm của Đảng và nhà nƣớc, nhiều làng nghề ở nƣớc ta đang đƣợc khôi phục và phát triển. Sản xuất sản phẩm làng nghề đang dần trở thành một nghề chính của nhiều ngƣời dân trong khu vực làng nghề.
Và trong các làng nghề trên địa bàn tỉnh Ninh Bình không thể không kể đến làng nghề chế tác đá xã Ninh Vân, đây là làng nghề đã có tiếng từ hàng ngàn năm nay. Việc sản xuất kinh doanh sản phẩm làng nghề đã góp phần làm tăng thu nhập cho ngƣời dân, đóng góp đáng kể vào sự tăng trƣởng của xã Ninh Vân đồng thời là động lực cho một số ngành kinh doanh dịch vụ khác phát triển. Bên cạnh những lợi ích kinh tế do làng nghề mang lại thì vấn đề môi trƣờng lại đang là thực trạng đáng báo động. Điều này đòi hỏi sự quan tâm của các cơ quan chức năng, các tổ chức và cộng đồng dân cƣ.
Tuy nhiên hiện nay công tác quản lý môi trƣờng trên địa bàn làng nghề chế tác đá Ninh Vân vẫn còn nhiều bất cập chƣa đƣợc giải quyết. Để hƣớng tới sự phát triển bền vững của làng nghề cần có những hƣớng đi đúng đắn trong tƣơng lai, trong đó phải kể đến trƣớc tiên là nâng cao hiệu quả quản lý môi trƣờng. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn: “Đánh giá hiện trạng và công tác quản lý môi trường tại làng nghề chế tác đá xã Ninh Vân - huyện Hoa Lư- tỉnh Ninh Bình” đƣợc thực hiện nhằm nghiên cứu hiện trạng và công tác quản lý tại làng nghề và đƣa ra những giải pháp quản lý phù hợp để làng nghề phát triển theo hƣớng bền vững.Đề tài thực hiện với những mục tiêu sau: - Phân tích, đánh giá và dự báo đƣợc ô nhiễm môi trƣờng do hoạt động chế tác đá tại làng nghề Ninh Vân. - Tìm hiểu ảnh hƣởng của hoạt động sản xuất của làng nghề đến môi trƣờng trong làng nghề và sức khỏe của ngƣời dân.
- Trên cơ sở đó để nhận định, đúc rút đƣợc những thuận lợi và khó khăn đối với công tác quản lý môi trƣờng tại làng nghề. Đề xuất đƣợc các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý môi trƣờng và chất lƣợng môi trƣờng làng nghề đạt hiệu quả hơn. 1 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan làng nghề ở Việt Nam 1.
Khái niệm và lịch sử phát triển làng nghề ở Việt Nam Khái niệm về làng nghề Việt Nam Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cƣ dân chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại [7]. Làng nghề thƣờng mang tính truyền thống đặc sắc, đặc trƣng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn mang màu sắc văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam. Theo tiêu chí “làng nghề nông thôn Việt Nam” thì làng làm nghề truyền thống đƣợc công nhận là làng nghề khi đạt đƣợc 3 tiêu chí sau [1]: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nƣớc. Lịch sử phát triển của làng nghề Việt Nam Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển KT-XH, văn hóa và nông nghiệp của đất nƣớc. Ví dụ nhƣ làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm – Thái Bình hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ ở Ninh Vân – Hoa Lƣ – Ninh Bình cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm.
Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [7]. Hiện nay, cả nƣớc có khoảng 1450 làng nghề truyền thống với tổng số 1,4 triệu nhân công, phân bố ở 58 tỉnh và thành phố trong cả nƣớc. Trên cả nƣớc, làng nghề phân phố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng khoảng 800 làng (chiếm 67,3%), miền Trung 20,5% và miền Nam 12,2%. Các tỉnh có số lƣợng làng nghề đông bao gồm: Hà Tây cũ có 280 làng, Thái Bình có 187 làng, Thanh Hoá có 127 làng,Nam Định có 90 làng, Hải Dƣơng có 65 làng [7].
Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trƣờng, phục vụ tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu. Quá trình công nghiệp 2 z hóa cùng với việc phát triển ngành nghề nông thôn đã làm tăng mức thu nhập bình quân của ngƣời dân, các công nghệ mới đang ngày càng đƣợc áp dụng phổ biến. Các làng nghề mới và các cụm làng nghề không ngừng đƣợc khuyến khích phát triển nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn. Dựa trên các yếu tố tƣơng đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trƣờng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, có thể chia hoạt động làng nghề nƣớc ta ra thành 6 nhóm ngành chính gồm: Thủ công mỹ nghệ; chế biến lƣơng thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, ƣơm tơ, thuộc da; vật liệu xây dựng, khai thác đá; tái chế phế liệu và các ngành nghề khác.
Mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ. 4% 5% Thủ công mỹ nghệ 39% Chế biến lƣơng thực, thực 15% phẩm, chăn nuôi, giết mổ 20% 39% Dệt nhuộm, ƣơm tơ, thuộc da 17% Các nghề khác 15% Vật liệu xây dựng, khai thác đá 5% 17% Tái chế phế liệu 4% 20% Hình 1.1: Tỉ lệ các làng nghề ở Việt Nam 1. Vấn đề về môi trường làng nghề Bộ TN&MT cho biết có những địa phƣơng, mức độ ô nhiễm kim loại nặng độc hại (Cr6+) cao gấp hơn 3.000 lần quy chuẩn cho phép.Theo số liệu điều tra, kiểm tra môi trƣờng làng nghề của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng năm 2008 gần đây đã xác định đƣợc 104 làng nghề ô nhiễm nhất trên phạm vi cả nƣớc cần phải có kế hoạch xử lý triệt để cho đến năm 2020 [2]. 3 z Bên cạnh đó, tỷ lệ bệnh tật tại các khu vực ô nhiễm do làng nghề ngày một gia tăng.
Hầu hết các cơ sở tại làng nghề không có biện pháp xử lý nƣớc thải, các loại khí thải, nƣớc thải, chất thải rắn đều xả trực tiếp ra môi trƣờng.Đặc biệt, chất thải của các làng nghề tái chế chất thải nhƣ giấy, kim loại, nhựa, dệt nhuộm sử dụng hóa chất công nghiệp đang là vấn đề hết sức bức xúc gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng và sức khỏe ngƣời dân. Theo đề án tổng thể bảo vệ môi trƣờng làng nghề đến năm 2020 và định hƣớng đến năm 2030 vừa đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015, cơ quan chức năng và chính quyền các địa phƣơng phải xử lý triệt để ô nhiễm tại 47 làng nghề ô nhiễm môi trƣờng đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời thanh tra, kiểm tra 100% cơ sở sản xuất thuộc nhóm tái chế giấy, kim loại, nhựa, nhôm, giết mổ, chế biến gia súc, thủy sản. gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng hoạt động trong các làng nghề, buộc cơ sở vi phạm khắc phục hậu quả và lập kế hoạch di dời cơ sở sản xuất vào khu, cụm công nghiệp hoặc yêu cầu chuyển đổi sản xuất [2]. Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng tại các làng nghề ở Việt Nam đã ở mức “báo động đỏ”.
Kéo theo nó là những hệ lụy ảnh hƣởng không chỉ đến hoạt động sản xuất mà còn gây tổn hại đến sức khỏe ngƣời dân. Môi trƣờng làng nghề ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng.Nguyên nhân chủ yếu là việc rác thải của các hộ làm nghề đúc đồng, bã nhôm đổ bừa bãi ra môi trƣờng, nƣớc thải của các hộ làm nghề có hóa chất nhƣ axit, sút không đƣợc quy hoạch vào khu tập trung để xử lý mà đổ trực tiếp ra các lòng sông, ao hồ, mƣơng máng. Các hộ đúc, cô phế liệu chƣa xây dựng đƣợc các ống khói đạt tiêu chuẩn đã làm ảnh hƣởng rất lớn tới sức khỏe của ngƣời dân tại nhiều địa phƣơng.Kết quả khảo sát tại 52 làng nghề điển hình trong cả nƣớc cho thấy, có đến 46% số làng nghề có môi trƣờng (không khí, nƣớc, đất hoặc cả ba dạng trên) bị ô nhiễm nặng và có 27% ô nhiễm vừa. Hiện nay, ô nhiễm môi trƣờng ở các làng nghề vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp.
a) Môi trƣờng không khí tại các làng nghề * Đặc trưng khí thải và ô nhiễm không khí tại các làng nghề: Khí thải ở các làng nghề thƣờng chứa nhiều thành phần các chất ô nhiễm không khí nhƣ: bụi, CO2, CO, SO2, NOx, chất hữu cơ bay hơi. Ngoài ra, các khí độc hại còn đƣợc sinh ra trong quá trình phân huỷ yếm khí các hợp chất hữu cơ có trong nƣớc thải và các chất hữu cơ dạng rắn, đó là các khí: H2S, NH3, CH4. 4 z Môi trƣờng khu vực sản xuất ở các làng nghề tái chế ngoài ô nhiễm không khí do đốt nhiên liệu, thể hiện ở các thông số ô nhiễm nhƣ bụi, CO2, CO, SO2, NOx…,quá trình tái chế và gia công cũng gây phát sinh các khí độc nhƣ hơi axit, kiềm, kim loại (PbO, ZnO, Al2O3) và gây ô nhiễm nhiệt [7]. Tại các làng nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ, ô nhiễm không khí không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chất hữu cơ trong nƣớc thải, chất rắn tạo nên các khí nhƣ SO2, NO2, H2S, NH3, CH4,… Tại các làng nghề ƣơm tơ, dệt vải và thuộc da thƣờng bị ô nhiễm bởi các thông số nhƣ bụi, SO2, NO2.
Môi trƣờng vi khí hậu ở các làng nghề dệt thƣờng bị ô nhiễm bởi tiếng ồn do các máy dệt thủ công. Mức ồn vƣợt TCVN từ 4 – 14 dBA[7]. Đối với các làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren, ô nhiễm không khí thƣờng chỉ xảy ra tại một số làng nghề chế tác đá và sản xuất mây tre đan.