CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG SỐNG, MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY 1. Tổng quan về môi trường sống 1. Khái niệm môi trường, môi trường sống a) Môi trường Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt sau hội nghị Stockholm về môi trường 1972. Tuy nhiên nghiên cứu về những khái niệm liên quan đến định nghĩa đưa ra trong luật bảo vệ môi trường của Việt nam, có những khái niệm đáng chú ý sau đây.
Một định nghĩa nổi tiếng của S.Kalesnik (1959, 1970): "Môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người" (xem S.Kalesnik: Các quy luật địa lí chung của trái đất. [14, tr 20] b) Môi trường sống Môi trường sống bao gồm tất cả các nhân tố xung quanh sinh vật, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sinh vật; làm ảnh hưởng đến sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển và những hoạt động khác của sinh vật. Cấu trúc của môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên có 2 thành phần cơ bản: môi trường vật lý và môi trường sinh vật. - Môi trường vật lý là thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm đất, nước, không khí, nhiệt độ, nguyên tố hoá học… - Môi trường sinh vật là thành phần hữu sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật, vi khuẩn… a) Những chức năng cơ bản của môi trường: - Môi trường có các chức năng cơ bản sau: 7 + Là không gian sống của con người và các loài sinh vật; + Là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; + Là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình; + Là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất; + Là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
b) Thành phần môi trường: Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác. Tổng quan về môi trường làng nghề, nghề truyền thống tại Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng 1. Tông quan về môi trường làng nghề tại Việt Nam Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, cả nước hiện có hơn 1.300 làng nghề được công nhận và 3. Đa số các làng nghề hoạt động với quy mô nhỏ, chủ yếu là quy mô hộ gia đình (chiếm 72%); Quy trình sản xuất lạc hậu, sử dụng nguyên, nhiên liệu giá rẻ; Vốn đầu tư hạn hẹp, chưa chú trọng đến công tác xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất… gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến sức khỏe người dân.
Kết quả khảo sát tại 52 làng nghề trong cả nước cho thấy, có 46% số làng nghề bị ô nhiễm nặng và 27% bị ô nhiễm vừa. Kết quả quan trắc môi trường không khí tại 46 làng nghề thuộc các lĩnh vực dệt nhuộm, sản xuất hàng mỹ nghệ, chế biến lương thực – thực phẩm, luyện kim – cơ khí của Cục Kiểm soát ô nhiễm (Tổng cục Môi trường) mới đây cũng cho thấy, 45/46 làng nghề (chiếm 97,8%) có chỉ tiêu quan trắc chất lượng không khí vượt quy chuẩn cho phép từ 1,1 – 4,3 lần. [13, tr 24] 8 Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận. Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làng nghề Việt Nam", Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây ô nhiễm như thêu, may.
Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất. Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ”. Tình trạng ô nhiễm môi trường trong các làng nghề xẩy ra ở mấy loại phổ biến sau đây: - Ô nhiễm nước: Ở Việt Nam, các làng nghề chưa có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp, nước thải được đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch chung hoặc ra sông. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử lý công nghiệp như: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, nung nấu kim loại, tẩy giấy và nhuộm… Thường thì nước thải ra bị nhiễm màu nặng và gây ra hiện tượng đổi màu đối với dòng sông, kênh, mương nhận nước thải, có mùi rất khó chịu.
Hơn nữa là sự vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) đối với các hàm lượng BOD, COD, SS, và coliform, các kim loại nặng… ở cả nước mặt và nước ngầm, làm chết các sinh vật thủy sinh và chứa các mầm bệnh nguy hại cho con người. - Ô nhiễm không khí gây bụi, ồn và nóng do sử dụng than và củi chủ yếu trong sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gốm sứ. - Ô nhiễm chất thải rắn do tái chế nguyên liệu (giấy, nhựa, kim loại…) hoặc do bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong), các loại rác thải thông thường: nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thường được đổ ra bất kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào. Làm cho nước 9 ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người.
Tại Báo Nhân dân ngày 23/6/2005, GS. Đặng Kim Chi đã cảnh báo "100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép. Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi. Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da.
Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề" [13 tr 26] 1. Tổng quan về môi trường làng nghề, nghề truyền thống tại thành phố Hải Phòng Thành phố Hải Phòng hiện có 36 làng nghề đang hoạt động, trong đó, có 23 làng nghề truyền thống, 13 làng nghề mới ở 30 xã, phường, thị trấn sản xuất, kinh doanh 14 loại ngành nghề khác nhau. Các làng nghề thu hút 33 nghìn lao động, tạo ra hàng nghìn tỷ đồng giá trị sản xuất. Bên cạnh kết quả tích cực, vấn đề ô nhiễm môi trường trong các làng nghề đã đến mức báo động.
Sản xuất càng phát triển, áp lực về ô nhiễm môi trường càng nặng nề. Các làng nghề chế biến nông sản như làm bún (Thiên Hương, Thủy Nguyên), bánh đa (Lạng Côn, Kiến Thụy), cau khô (Cao Nhân, Thủy Nguyên)…gây ô nhiễm môi trường nước mặt là chủ yếu. Nước thải do các cơ sở chế biến nông sản thải ra chứa nhiều chất hữu cơ, dễ phân hủy. Song, nguồn nước thải này lại không được xử lý, xả thải trực tiếp vào hệ thống sông, ngòi thành phố gây ô nhiễm nguồn nước mặt, ô nhiễm mùi và có cả khí độc.
Các làng nghề sản xuất đồ mỹ nghệ sơn mài, tạc tượng, làm mộc như Đồng Minh (Vĩnh Bảo), Kha Lâm (Kiến An) cũng gây ô nhiễm nước và không khí. Trong đó, nước thải có lượng kim loại nặng khá cao. Ô nhiễm khí gồm ô nhiễm bụi cơ học, 10 hơi hóa chất tại các làng nghề. Làng dệt chiếu Lật Dương (Quang Phục, Tiên Lãng) sử dụng thuốc nhuộm gây ô nhiễm nguồn nước và có nguy cơ cả với nguồn nước ngầm.
Các làng nghề vận tải thủy, đóng tàu, sửa chữa tàu, gây ô nhiễm cả môi trường đất, nước và không khí. Nhóm nghề này có các chất thải nguy hại như dầu, mỡ, amiăng, cặn gỉ, bụi sơn. Nhóm cơ khí đúc gang, kim loại màu, rèn ở Mỹ Đồng (Thủy Nguyên) gây ô nhiễm không khí, tiếng ồn, bụi kim loại cao. Các làng nghề nuôi trồng thủy sản lại gây ô nhiễm nước mặt do nguồn thải chứa nhiều chất độc hại, mức độ ảnh hưởng rộng không chỉ khu vực nuôi trồng thủy sản mà cả các vùng chung quanh.
Làng nghề tái chế chất thải Tràng Minh (Kiến An), khi rửa túi, vỏ bao nilon, giấy…có nhiều loại chất độc hại dung môi hữu cơ, thuốc trừ sâu, hóa chất…khi thải ra sông hồ làm ô nhiễm nguồn nước mặt, ảnh hưởng sức khỏe con người… Theo đánh giá của cơ quan bảo vệ môi trường, trong tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các làng nghề, chất thải của các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm, dược liệu chiếm 55%; khối lượng vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật 15%; làng nghề tái phế liệu 22%, đúc kim loại, vật liệu xây dựng 11%, ươm tơ, dệt vải 7-8%, các ngành nghề khác 1-3%. Trong tổng lượng chất thải rắn toàn thành phố cần được thu gom và xử lý là 10.000 tấn/năm, rác thải phát sinh từ các làng nghề bình quân 3. Những tác động của làng nghề, nghề truyền thống đến môi trường hiện nay Sự phát triển sản xuất của các làng nghề đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn. Tuy nhiên, ngoài các mặt tích cực của làng nghề thì hoạt động sản xuất của làng nghề đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường.
Phần lớn các cơ sở sản xuất tại các làng nghề có quy mô nhỏ, tận dụng lao động nông nhàn, cơ sở sản xuất đặt ngay tại các hộ gia đình và trong các khu dân cư đông người. Các chất ô nhiễm do hoạt động sản xuất tác động trực tiếp tới cộng đồng xung quanh. 11 Lĩnh vực sản xuất nghề tiềm ẩn nhiều yếu tố gây ô nhiễm môi trường.