phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án được bố cục trong 4 chương với 30 biểu bảng, 2 biểu đổ, 17 hình vẽ, bản đồ va 1 lát cắt tong hợp. Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan nhân sinh lãnh thô Kon Tum phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng Chương 2. Các hợp phần và yếu tố thành tạo cảnh quan nhân sinh lãnh thé Kon Tum Chương 3. Cảnh quan nhân sinh lãnh thô Kon Tum Chương 4.
Đánh giá cảnh quan nhân sinh và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng lãnh thổ Kon Tum CHUONG 1 CO SO LY LUAN NGHIEN CUU CANH QUAN NHAN SINH LANH THO KON TUM PHUC VU SU DUNG HOP LY TAI NGUYEN DAT, RUNG 1. TONG QUAN VE CANH QUAN NHAN SINH 1. Tinh hình nghiên cứu cảnh quan nhân sinh 1. Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Tây Au và Bắc Mỹ Ở Tây Âu và Bắc Mỹ, các nhà địa lý nói chung và cảnh quan nói riêng đã quan tâm tới việc nghiên cứu những CỌ bị tác động bởi hoạt động kinh tẾ của con người khá sớm.
Tuy nhiên, do những cách tiếp cận khác nhau nên quan niệm, tên gọi về những CQ bị tác động bởi con người có khác nhau. Năm 1925, nhà địa lý văn hoá Mỹ Carl Sauer đã nghiên cứu những CQ tự nhiên chịu tác động bởi các hoạt động của con người. Carl Sauer xem CQ tự nhiên là đối tượng, văn hoá là nhân tố tác động để rồi hình thành nên CQ văn hoá. Đặc biệt, ông còn cho rằng khi có nền văn hoá hoặc nhóm nhân tố văn hoá tác động, CQ văn hoá có thể được trẻ hoá hoặc hình thành nên những CQ văn hóa mới có cấu trúc khác trước (McCormack G.
Như vậy, rõ rang ở một góc độ khác những tác động của con người không những thành tạo CỌNS, ma còn có tác dụng tiếp tục biến đổi chúng, làm cho chúng diễn thế theo hướng nhân sinh. Tư tưởng và cách thức tiếp cận nghiên cứu của Sauer đã có ảnh hưởng đến thế hệ các nhà địa lý nhân văn (Johnton R. et al, 2001): “Tu ứưởng của Sauer đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều nhà khoa học ở Bắc Mỹ cũng như lan rộng sang Tây A u và được đánh gia vượt lên trên trường phái địa ly văn hoá cua Berkely — Trường phải Berkely” [109, tr. Cần biết thêm, Berkely là nhà triết học, địa lý học nổi tiếng của Ai Xo Len thé ky XVIII Ở Anh, CQNS cũng được quan tâm khá sớm.
Các nhà dia lý Anh mà điển hình là Lovejoy đã đi sâu nghiên cứu những CQ bị thay đổi do những tác nhân từ phía con người [106]. Cũng theo Lovejoy, ở những nơi có quá trình hình thành va phát triển lâu đời và thường xuyên chịu sự tác động của con người thì ở đó đã hình thành nên CQNS và khi nghiên cứu nó không nên cứng nhắc tách biệt cảnh quan tự nhiên và CỌNS. Nhìn chung, dù ở các góc độ tiếp cận khác nhau nhưng các nhà địa lý, cảnh quan ở Tây Âu và Bac Mỹ đều đã tiến hành nghiên cứu những đơn vị lãnh thé tự nhiên chịu sự tác động từ phía con người. Day là cơ sở dé hình thành nên một hướng nghiên cứu mới mà trong nhiều tài liệu sau này chúng được xem là bộ phận của địa lý nhân văn.
Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Liên bang Nga và Đông Au Ngay trong những năm giữa của thể kỷ XX, các nhà địa lý đã bắt đầu quan tâm nhiều tới mối quan hệ và các tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên. Họ nghiên cứu sự phức tạp và hệ quả của mối tác động đó trong xu hướng phát triển của địa tổng thể [126, tr. Phan lớn các công trình nghiên cứu đã công bồ về sự tác động của con người vào thiên nhiên liên quan đến địa lý nhân sinh. Về ranh giới giữa địa lý nhân sinh và CQ học nhân sinh được đề cập rất sớm trong chuyên khảo của Docutraev năm 1892 và Irmainxki năm 1893 [125].
Tuy vậy, cho đến nay có thể khăng định, CQHNS ra đời vào những năm 30 của thế kỷ XX và đồng thời với nó là các quan niệm về đối tượng nghiên cứu (cảnh quan nhân sinh) cũng được đưa ra xem xét ở các góc độ khác nhau. Năm 1930 Gozep sử dụng thuật ngữ CQNS vao việc định rõ đặc tính các dạng lãnh thổ ở khu địa hình cát. Tiếp theo là Ramenxki (1935,1938) đã chú ý vào việc hình thành CQ dưới các tác động của con người. Theo ông, đối tượng nghiên cứu của các nhà CQ học không phải chỉ ở mỗi đơn vị CQ tự nhiên mà cả những CQ biến đổi do con người và cả những CQ văn hóa do con người tạo ra [126, tr.
Khi tiến hành tổng kết 20 năm phát triển của CQ học Liên Xô, Pervukhin (1938) đã nhận thấy “niềm say mê” tới việc tai tạo các CQ do hoạt động con người của các nhà khoa hoc CQ tự nhiên tăng lên va họ còn chỉ ra sự điều chỉnh cho phù hợp hơn vai trò của con người trong việc xây dung CQ văn hoa và CQNS. Nhu vậy ngay từ thời gian đầu, các nhà địa lý đã có sự nhìn nhận và phân biệt CQNS và CQ văn hóa. Irlinxki (1941) đã cho công bố một bản tổng hợp ngắn gọn về tính quy luật chuyên đổi của CQ rừng trồng sang CQ thảo nguyên va sang CQNS [126, tr. Ở đây có thé thấy răng quan điểm của Irlinxki thừa nhận CQNS ở một dạng rất đặc thù, là kết quả rất xa sau diễn thế rừng trồng.
Ông chưa mô tả rõ bản chất CQNS là gi. Vì vậy quan điểm này còn bị bó hẹp trong nội dung nghiên cứu riêng của ông. Ngay sau chiến tranh thế giới lần 2, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cũng như sự tác động của con người vào tự nhiên đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của Sauxkin (1946,1947,1951), Kotenikov (1950), Bogdanov (1951). Hầu hết những nghiên cứu này đều tập trung vào lĩnh vực hoạt động nông nghiệp, trong đó chi ra thành phần kiêu hình CQ nông nghiệp nhân sinh (cảnh quan văn hoa hoặc bị biến đổi).
Tập chuyên khảo của Sauxkin: “Những lược khảo địa lý về thiên nhiên và hoạt động nông nghiệp của dân cư ở các vùng khác nhau tại Liên bang Xô Viết" rất nôi tiếng nhưng theo Minkov thì đến nay vẫn chưa tìm được những nhận xét thỏa đáng về công trình này [126]. Dù vậy, có thé thay rang, trong cuốn chuyên khảo đã mô tả các mô hình địa lý của nền nông nghiệp ở Liên Xô. Những mô hình này được lấy từ những vùng khác nhau của đất nước và mang những đặc điểm khác nhau bởi sự tác động qua lại giữa hoạt động sản xuất của con người với CQ văn hoá. Cuốn sách chuyên khảo này được xem là kinh nghiệm đầu tiên của việc nghiên cứu một cách nghiêm túc CQ nông nghiệp nhân sinh của ngành khoa học địa lý Liên Xô và Đông Âu.
Những công trình nghiên cứu của Mirotxev (1951), Luxki (1957), Lidov (1960), Kharitonutrev (1960), Prokaev (1965), Dobrodxkaia (1968), Nheulubin (1970) và những nhà nghiên cứu khác đã lần lượt làm sáng tỏ vai trò của yêu tố do con người trong việc hình thành nên các tổ hợp cảnh quan. Đặc biệt có ý nghĩa là công trình của Grelukov (1972) trong lĩnh vực lịch sử địa lý các cảnh quan. Trong nhiều năm, các tác giả trong bộ môn Địa lý tự nhiên nước ngoài ở trường Đại học Tổng hợp Matxcova đã lần lượt nghiên cứu CQNS ở những nước khác nhau. Kết quả của công trình “đồ sộ” này được tông kết trong tập chuyên khảo của Riabtrikov với tựa đề: “Cấu trúc và sự chuyền biến địa quyền, sự phát triển tự nhiên và sự thay đổi do con người của nó” (1972).
Trong quyền sách này, lần đầu tiên đã đưa ra cách mô tả bằng sơ đồ địa lý các CQNS trên phạm vi toan cầu và chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ của chúng với những dạng cơ bản của việc sử dụng đất. Ở đây có thê thấy rằng, sự hình thành và phát triển CỌNS gan chat với hoạt động sử dụng lãnh thổ của con người. Tuy vậy, do lĩnh vực hoạt động còn hạn chế nên Riabtrikov đi sâu vào các CQ nông nghiệp. Từ năm 1968 việc nghiên cứu vấn đề sử dụng CQNS là một trong những hướng quan trọng trong các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu địa chất trường Dai học tông hợp Varonhetx.
Đối tượng nghiên cứu chung của các công trình là những CQ kiến tạo, CQ nông nghiệp, CQ thành phố tại các khu trung tâm vùng đồng bằng Nga. Sau này, những CQ nói trên được nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là CQ nông nghiệp. Cùng với các nhà địa chất, các nhà sinh vật cũng bắt đầu chú ý vào mối liên hệ giữa sự phá huỷ và tái tạo đất bởi ngành công nghiệp (Kalenxnhikov 1974; Metorina, Orkinhikov 1975). Pokonov (1974) đã chỉ ra những phương pháp mới nghiên cứu CQ kiến tạo ở những vùng khai thác dầu mỏ.
Tuy vậy, theo Minkov và nhiều tác giả khác đã xác định rõ răng, ngay từ rất xa xưa con người đã tích cực sử dụng các khu rừng va làm biến đổi CQ dé tạo nên các CQ thảo nguyên hiện đại như ngày nay, đó chính là những đơn vị CQNS điển hình. Những kết quả thu được cho thay, CQHNS dat được những thành tựu đáng kế sau những năm 70 của thế ky XX. Điền hình có các công trình của Akhtysev, Berec, Bulatov, Drozdov, Kobalev và Minkov. Các tác giả đều đề cập tới những biến đôi nhân sinh cua CQ do tác động của con người, trong đó đặc biệt nhắn mạnh tới cau trúc, chức năng và sự vận động phát triển của CQNS [113, 115, 116, 121, 126, 131].
10 Sauxkin còn sử dụng thuật ngữ “Tự nhiên con người” hay là “Lịch sử của tự nhiên” để khẳng định vai trò của con người trong việc kiến tạo CỌNS [130, tr. Sau này, nhiều tác giả thấy rằng, nội tại của CQNS luôn tồn tại mối quan hệ khăng khít giữa sinh vật với môi trường và sự cần thiết phải giải quyết mối quan hệ đó một cách đúng đắn. Chính vì lẽ đó đã xuất hiện quan điểm “Tiếp cận sinh thái” hay sinh thai hoa CQ [93, tr. Thuộc trường phái nay có nhiều đại diện như Bychkonxkaia, Mikhailov, Trupakhin.
Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Việt Nam Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về CQNS ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Một số công trình đã công bố hoặc cho thấy chỉ là sự liên quan, hoặc mới dừng lại ở phần quan điểm phương pháp luận, ở phần xác định đối tượng nghiên cứu hoặc hệ thống phân loại lý thuyết [26, 36, 44].