CHƯƠNG 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Huyện Thới Bình nằm về phía Bắc của tỉnh Cà Mau, với tổng diện tích tự nhiên 63.645,8 ha gồm 12 đơn vị hành chính (01 thị trấn, 11 thị xã).
Ranh giới hành chính được xác định: - Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang, - Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Bạc Liêu, - Phía Tây tiếp giáp với Huyện U Minh, - Phía Nam tiếp giáp với thành phố Cà Mau, Huyện Thới Bình có vị trí giáp thành phố Cà Mau, khu liên hợp khí điện đạm Cà Mau, có các trục kết nối giao thông khá phát triển trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, có tuyến giao thông đường thủy phía Nam của vùng đồng bằng sông Cửu Long đi qua. Vì vậy khả năng thu hút vốn đầu tư vào huyện sẽ được tăng lên, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội. Đặc điểm khí hậu Khí hậu huyện Thới Bình mang đặc trưng của khí hậu bán đảo Cà Mau có chế độ gió mùa cận xích đạo, với nền nhiêt cao đều quanh năm, lựong mưa lớn phân hóa theo mùa Lượng mưa trung bình hằng năm 2.200mm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 90% lượng mưa cả năm, lượng mưa rất thấp chỉ chiếm 10-15% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. 5 Đồ án tốt nghiệp Hình 1.
Bản đồ hành chính huyện Thới Bình Trong năm gió thịnh hành theo hai mùa: Mùa khô có gió Đông Bắc, Mùa mưa thịnh hành gió Tây Nam hoặc gió Tây. Trong mùa mưa thường xảy ra dông, có lốc 6 Đồ án tốt nghiệp xoáy có gió mạnh cấp 7, cấp 8, nhiệt độ trung bình năm khoảng 26,60C độ ẩm không khí trung bình 85-86%. Với khí hậu phân chia hai mùa rỏ rệt nên có nhiều thuận lợi cho nhân dân trong việc bố trí cây trồng hợp lý, chủ động tưới tiêu mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao. Địa hình, địa mạo Huyện Thới Bình thuộc vùng đầm lầy, đọng nước, đây là vùng bán đảo Cà Mau có nguồn gốc do hoạt động kiến tạo của vỏ trái đất thuộc vùng biển cạn với rừng ngập mặn và sau đó nước biển hạ thấp nên dần hình thành vùng đồng bằng như ngày nay.
Vì vậy, huyện có địa hình bằng phẳng, cao trung bình từ 0,2-0,4m, một số ít có địa hình cao hơn có cao trình 0,8-1,2m, một số khu vực thấp trũng như khu vực Cây Sộp, xóm Hồ Thị Kỷ, khu vực Thới Hòa, Chàm Thẻ…và có hệ thống sông, kênh rạch tương đối dày đặc, phân bố tương đối đều trên toàn bộ diện tích. Với địa hình này, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và thích hợp cho các hoạt động giao thông đường thủy. Tuy nhiên lại rất khó khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông đường bộ và xây dựng nhà ở, các công trình dân dụng, trong sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng của nước mặn vào mùa khô. Đặc điểm thủy văn Hệ thống thủy văn chịu ảnh hưởng tồng hợp của triều Biển Đông và Biển Tây, rất phức tạp.
Nơi tiếp giáp của hai chế độ thủy triều là vùng nước ứ đọng nước sông hay kênh rạch không lưu thông, nước đứng, làm lắng tụ nhiều phù sa. Trên địa bàn huyện hình thành một số vùng giáp nước (theo tuyến kênh Đường Xuồng, kênh Cây Gừa, kênh Bảy Ngàn…) nên những vùng trũng này khó tiêu thoát úng trong mùa mưa và cấp thoát nước phục vụ nuôi trồng tôm tai một số vùng. 7 Đồ án tốt nghiệp Sông Trẹm khởi nguồn tè Cái Tàu (U Minh) dài 36 km chảy vào sông Ông Đốc. Sông Trẹm có độ sâu trung bình 2.5-3m, chiều rộng 80-100m và có màu nước thay đổi theo mùa.
Mùa mưa, nước sông có màu đỏ do các kênh rạch nối liền với rừng Tràm U Minh Thượng và U Minh Hạ đổ ra. Về mùa khô, nước sông có màu trắng đục của phù sa từ biển Tây đổ vào dọc sông Trẹm là cánh đồng lúa bạt ngàn, vườn cây ăn trái, vườn mía. Các nguồn tài nguyên 1. Tài nguyên nước Nước mưa là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho cây trồng nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và một phần cho sinh hoạt (nhất là đối với vùng Biển Bạch, Tân Bằng việc khai thác gặp khó khăn).
Ở những vùng sản xuất nông nghiệp hệ sinh thái nước ngọt thì nước mưa cuối vụ có thể được bao giữ lại trong kênh rạch để tưới bổ sung cho lúa hai vụ, cho mía và sản xuất vụ màu. Hiện nay nguồn nước mặt là nước lợ, nước mặn, đây là nguồn nước được đưa từ biển vào hoặc được pha trộn với nước mưa. Trong mùa khô độ mặn nước sông tăng cao hơn so với mùa mưa do có sự hòa lẫn nước mưa. Trong mùa mưa độ mặn giảm nhanh ở cả nước sông và nước đầm nuôi tôm, một số vùng có điều kiện rửa mặn, giữ ngọt tốt có thể luân canh sản xuất một vụ lúa trên đất nuôi tôm trong mùa mưa mang lại hiệu quả cao và phát triển khá bền vững.
Tài nguyên nhân văn Trên địa bàn huyện có 04 di tích lịch sử (khu căn cứ Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương của Miền Nam tại xã Trí Phải và xã Trí Lực, nhà máy xay lúa bên dòng sông Trẹm), trong đó có 01 khu di tích lịch sử cấp quốc gia (Đền thờ Bác Hồ) tại xã Trí Lực, 2 bia chiến thắng và bia lưu niệm và có đình Thần làng. 8 Đồ án tốt nghiệp Với truyền thống của dân tộc,truyền thống cách mạng, người dân cần cù sáng tạo, ý chí tự lực tự cường, biết khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh ngiệm, thành quả đạt được cùng với đội ngủ trí thức, cán bộ khoa học. Được sự quan tâm của cấp trên, trong thời gian tới, huyện Thới Bình sẽ có nhiều điều kiện để phát triển mạnh nền kinh tế xã hội. Thực trạng môi trường Địa bàn huyện chưa hình thành các khu công nghiệp, việc phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn với quy mô nhỏ lẻ, phân tán nên ít tác động đến môi trường.
Yếu tố ảnh hưởng đến môi trường và cảnh quan thiên nhiên của thị trấn do tác động của quá trình sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, rác thải sinh hoạt, tác động đến môi trường nước và môi trường đất. Các hoạt động kinh tế chủ yếu có tác động đến môi trường như: sử dụng nhiều hóa chất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các hóa chất dùng để xử lý hầm nuôi tôm, cá và dùng để đánh bắt thủy sản. Các hoạt động khai thác chế biến thủy hải sản, giao thông vận tải hàng hóa bằng đường thủy qua các kênh rạch đã thải vào môi trường không ít rác thải, dầu làm thay đổi thành phần vật chất trầm tích, nước ven biển. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 1.
Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 1. Dân số Theo số liệu thống kê tại thời điểm tháng 3 năm 2011 dân số của huyện Thới Bình là 140.600 người so với dân số năm 2009 đã tăng thêm 6. Bình quân dân số tăng thêm của huyện thấp hơn so với các huyện khác. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện khá cao đầu năm 2011 là 1,24%, dân số cơ học giảm.
Mật độ dân số trung bình của huyện là 219 người/km2 bình quân toàn tỉnh là 226 người/km2. Dân số trong huyện phân bố không đều, các xã có điều kiện kinh tế xã hội 9 Đồ án tốt nghiệp khó khăn như Tân Lộc Đông, Biển Bạch Đông, Tân Bằng có mật độ dân số thấp hơn khá nhiều so với một số xã. Mật độ dân số theo từng xã trong huyện Thới Bình được nêu trong bảng 1. Dân số và mật độ dân số theo đơn vị hành chính STT Đơn vị xã Dân số Mật độ Toàn huyện 140.600 219 1 Thị trấn Thới Bình 10.723 500 2 Xã Biển Bạch Đông 10.764 422 10 Xã Tân Lộc Bắc 10.198 362 11 Xã Tân Lộc Đông 6.855 154 12 Xã Hồ Thị Kỷ 20.499 215 “Nguồn: số liệu Phòng Thông kê huyện Thới Bình dân số thời điểm tháng 3/2010” Huyện Thới Bình có các dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là người Khmer đầu năm 2011 có 1.614 người, tập trung chủ yếu ở các xã Tân Lộc, Tân Lộc Đông, Hồ Thị Kỷ, ngoài ra còn có dân tộc Hoa 137 hộ với 608 người và một số dân tộc khác khoảng 3 hộ với 11 người.
Những hộ đồng bào dân tộc thiểu số thường sinh 10 Đồ án tốt nghiệp nhiều con hơn, bình quân số là 4,4 người/hộ, riêng các hộ đồng bào dân tộc thiểu số là 4,8 người/hộ. Lao động việc làm và thu nhập Đầu năm 2011 toàn huyện có 92.865 người trong độ tuổi lao động, chiếm 66% dân số. Lao động của huyện là lao động trẻ, có thể lực tốt, nhưng trình độ còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Tỷ lệ lao động được đào tạo, dạy nghề tập huấn trong huyện chiếm khoảng 8% ,riêng số lao động có trình độ từ công nhân kỉ thuật trở lên đến cuối năm 2010 chiếm 3,84%.
Nguồn lực lao động của huyện chưa được sử dụng có hiệu quả vẩn còn một số lao động nhàn rổi ở địa phương. Theo số liệu của Phòng Thống kê huyện, số lao động có việc làm ổn định là 80.820 người chiếm 87,5%. Số lao động nử tham gia làm việc trong các ngành kinh tế của huyện chỉ chiếm 34%. Vì vậy cần tạo nhiều việc làm phù hợp để lao động nữ tham gia làm việc, có thu nhập, làm chủ cuộc sống.
Do cơ cấu kinh tế huyện chủ yếu là nông ngư nghiệp, nên số lao đông nông nghiệp chiếm trên 83% lao động công nghiệp xây dựng chiếm 5,7%; lao động dịch vụ chiếm 11,3%. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Tăng trưởng kinh tế Tổng giá trị tăng thêm của huyện năm 2010 tăng gấp 3,45 lần năm 2000, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2010 là 13,2%, trong đó giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 16% và giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân là 10,4%. Tính chung cả thời kỳ 10 năm 2001-2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Thới Bình bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh Cà Mau.
Lĩnh vực dịch vụ tốc độ tăng trưởng cao nhất, bình quân hàng năm đạt 16,8% (giai đoạn 2006-2010 tăng 15,1% so với nghị quyết là 13,75%); đồng thời lĩnh vực công nghiệp xây dựng giai đoạn 2006-2010 củng có tốc độ tăng cao (18% so với Nghị quyết 11 Đồ án tốt nghiệp 20,56%).