Chương 1: Giới thiệu khái quát các nội dung chính như sau: lý do hình thành đề tài, mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, phạm vi nghiên cứu và phương pháp thực hiện đề tài nhằm có cái nhìn tổng quan về đề tài này. Chương 2: Giới thiệu một cách hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết của đề tài về tự sản xuất hay mua ngoài, về vi sinh vật, men tiêu hóa sống cũng như các mô hình hỗ trợ ra quyết định tự sản xuất hay mua ngoài. Chương 3: Hệ thống hóa các thông tin nghiên cứu và quy trình nghiên cứu. Đồng thời đưa ra các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp để làm rõ các công việc cần thiết phục vụ giải quyết các mục tiêu của đề tài.
7 Chương 4: Giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH MTV Vắc xin Pasteur Đà Lạt. Đánh giá thực trạng mua ngoài và tự sản xuất tại Công ty,áp dụng kỹ thuật phân tích ABC để phân loại nguyên vật liệu, từ đó xác định những nguyên vật liệu cần xem xét ra quyết định mua hay tự sản xuất nhằm đem lại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao nhất cho Công ty. Chương 5: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hay tự sản xuất. Đồng thời sử dụng mô hình AHP để chọn lựa quyết định mua hay tự sản xuất.
Chương 6: Đề xuất các giải pháp để thực hiện chiến lược được chọn. Chương 7: Tổng quan lại các nội dung và kết quả đã nghiên cứu được. Đồng thời rút ra các hạn chế trong nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về văn hóa doanh nghiệp, cam kết của nhân viên, mối quan hệ giữa văn hóa doanh nghiệp và sự cam kết gắn bó của nhân viên, kết quả của các nghiên cứu trước có liên quan và đưa ra cơ hội nghiên cứu của đề tài từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu, phát biểu các giả thuyết.
Định nghĩa một số khái niệm 2. Quyết định mua hay tự sản xuất Theo Fine & Whitney (1996) định nghĩa quyết định mua hay tự sản xuất là quyết định hoặc tự sản xuất sản phẩm hoặc mua từ nhà cung cấp bên ngoài. Probert (1997) cũng định nghĩa quyết định “ làm hay mua” là quyết định tự tiến hành các quá trình và hoạt động trong nội bộ hoặc chuyển giao nó cho nhà cung cấp bên ngoài. “Làm hay mua” là các hành vi lựa chọn giữa tự sản xuất một sản phẩm hoặc mua nó từ một nhà cung cấp bên ngoài.
Để đưa ra quyết định làm hay mua, cần xem xét hai yếu tố quan trọng nhất là chi phí và năng lực sản xuất sẵn có (McIvor và cộng sự, 1997). Việc thực hiện quyết định làm hay mua đề cập đến các vấn đề một tổ chức gặp phải khi quyết định liệu một sản phẩm hay dịch vụ nên được mua từ các nguồn bên ngoài hay sản xuất trong nội bộ. Về mặt lý thuyết, tất cả các mục mà hiện đang được mua từ một nhà cung cấp bên ngoài, luôn luôn là một ứng cử viên cho việc sản xuất nội bộ và tất cả các mục hiện đang được sản xuất nội bộ sẽ là một ứng cử viên tiềm năng để mua ngoài (Quinn & Hilmer, 1994). Tự sản xuất: Bảng 2.
So sánh thuận lợi và khó khăn của tự sản xuất Thuận lợi Khó khăn - Mức độ kiểm soát đầu vào cao - Đòi hỏi số lượng lớn - Có thể kiểm soát được quá trình tổng quan - Có thể gia tăng cấu trúc chi phí do phát - Tính kinh tế dựa trên quy mô triển quy mô tổ chức - Có thể đáp ứng khách hàng tốt hơn. - Đòi hỏi đầu tư lớn - Bảo vệ được bí quyết và công nghệ. - Các thiết bị có năng lực sử dụng hữu hạn - Đối mặt với các vấn đề về chuỗi cung ứng.1 là kết quả người nghiên cứu tự tổng hợp từ cơ sở lý thuyết và các ý kiến của chuyên gia sản xuất tại Công ty vắc xin Pasteur Đà Lạt. Mua ngoài: Mua ngoài là thuật ngữ chỉ việc mua từ nhà cung cấp bên ngoài.
Chi phí liên quan đến việc mua sản phẩm từ nguồn bên ngoài phải bao gồm giá của hàng hoá đó, bất kỳ phí vận chuyển hoặc nhập khẩu nào, và các khoản thuế doanh thu áp dụng. Ngoài ra, các chi phí liên quan đến việc lưu trữ các sản phẩm đến và chi phí lao động liên quan đến việc nhận sản phẩm vào hàng tồn kho phải được đưa vào quyết định.Mua ngoài là chuyển một hoạt động mà trước đó được thực hiện trong nhà đến một thực thể bên ngoài mà tổ chức chuyển được xem là khách hàng của thực thể bên ngoài này (Venkatesan, 2009). So sánh thuận lợi và khó khăn của mua ngoài Thuận lợi Khó khăn - Tính linh hoạt cao - Có khả năng bị lệ thuộc vào nhà cung cấp - Rủi ro đầu tư thấp - Tính bị phụ thuộc qua nhiều năm càng - Dòng tiền mặt được cải thiện tăng - Chi phí lao động thấp - Không kiểm soát được chất lượng sản - Việc cạnh tranh giữa các nhà cung cấp phẩm có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí - Mất kiểm soát quá trình - Thời gian chờ sản phẩm dài. là kết quả người nghiên cứu tự tổng hợp từ cơ sở lý thuyết và các ý kiến của chuyên gia thu mua tại Công ty vắc xin Pasteur Đà Lạt.
Sinh khối vi sinh vật:Thuật ngữ sinh khối chỉ toàn bộ khối lượng tế bào vi sinh vật được thu hoạch từ quá trình nuôi cấy vi sinh vật trong các nồi lên men có chứa môi trường dinh dưỡng phù hợp và được thông khí đầy đủ (Nguyễn Lân Dũng & cộng sự 1975). Men tiêu hóa sống (probiotics hay men vi sinh) Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới, probiotic là những vi sinh vật còn sống khi đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ sẽ có lợi cho sức khỏe của ký chủ. 10 Probiotic là một loại lợi khuẩn thuộc nhóm các vi khuẩn sống và là những vi sinh vật sống, chủ yếu đây là vi khuẩn, tương tự các vi sinh vật có lợi tự nhiên được tìm thấy trong ruột. Chúng còn được gọi là "vi khuẩn thân thiện" hay "vi khuẩn có lợi" (vi khuẩn có lợi cho con người), những vi khuẩn này được bổ sung vào chế độ ăn nhằm cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột để cải thiện sức khỏe.
Đây là những vi sinh vật còn sống khi đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ sẽ có lợi cho sức khỏe của ký chủ. Từ "probiotic" được bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa là "dành cho cuộc sống". Probiotics là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột của sinh vật chủ. Lestradet (1995) cũng cho rằng probiotic được sử dụng như một liệu pháp trong việc chữa trị bệnh tiêu chảy hay như là cách phòng bệnh ở người và động vật để giảm đến mức tối thiểu sự phát tán của vi sinh vật đường ruột, sự kháng lại liệu pháp sinh học và sự di căn của chứng viêm dạ dày ruột.
Theo Fuller (1989) thì probiotic cũng được nhận thấy là có những ảnh hưởng có lợi trên sức khỏe của sinh vật chủ. Havenaar (1992) đã mở rộng định nghĩa về probiotic: Probiotic được định nghĩa như là sự nuôi cấy riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa. Theo tổ chức y tế thế giới WHO: "Probiotics là các vi sinh vật sống khi được đưa một lượng cần thiết vào cơ thể sẽ đem lại hiệu quả có lợi cho cơ thể". Các mô hình hỗ trợ ra quyết định làm hay mua Có rất nhiều mô hình hỗ trợ ra quyết định làm hay mua đã được đưa ra chẳng hạn như mô hình khung hỗ trợ ra quyết định của Fine & Whitney (1996), Brandes ( 1994), McIvor và cộng sự (1997), McIvor và Humphreys (2000), Canez và cộng sự (2000), Platts và cộng sự (2002), Water and Peet (2006), Puranam và cộng sự (2013).,sau đây là những mô hình tiêu biểu được người nghiên cứu chọnlàm cơ sở lý thuyết của đề tài: 11 2.
Khung công việc hỗ trợ ra quyết định tự sản xuất hay mua ngoài (Fine & Whitney, 1996) Bảng 2. Khung công việc hỗ trợ ra quyết định tự sản xuất hay mua ngoài (Fine & Whitney, 1996) Phụ thuộc về tri Độc lập về tri thức và Độc lập về tri Sản phẩm thức và năng lực phụ thuộc về năng lực thức và năng lực Sản phẩm Thuê ngoài sẽ gặp Thuê ngoài là một cơ Cơ hội giảm chi dạng đơn vị/ rủi ro hội phí thông qua thuê độc lập ngoài Sản phẩm Thuê ngoài sẽ rất Thuê ngoài là một lựa Duy trì sản xuất tại dạng tích hợp rủi ro chọn chỗ Dựa trên khung công việc hỗ trợ ra quyết định tự sản xuất hay mua ngoài sẽ đánh giá hai khía cạnh của sản phẩm Biosubtyl DL thuộc dạng đơn vị hay tích hợp, đồng thời đánh giá tính độc lập hay phụ thuộc về tri thức và năng lực của sản phẩm từ đó giúp công ty đưa ra được quyết định cho việc có nên mua ngoài hay không? 2. Mô hình make or buy của Brandes (1994) Đánh giá nguồn lực chiến lược Năng lực cốt lõi Có Không có Có Đánh giá năng lực/ sự phụ thuộc Rủi ro phụ thuộc lớn Không có Chi phí thấp nhất Đánh giá phân tích chi phí Mua Làm Hình 2. Mô hình make or buy của Brandes (1994) 12 Mô hình cung cấp một cái nhìn tổng quan về các yếu tố quan trọng nhất, phù hợp với phạm vi rộng các phân tích làm hay mua khác.
Đây cũng chính là các yếu tố tương tự được xác định trong nghiên cứu này. Mô hình Brandes (1994) bao gồm ba đánh giá: đánh giá nguồn lực chiến lược, đánh giá năng lực/ sự phụ thuộc, đánh giá phân tích chi phí. Đánh giá nguồn lực chiến lược nên được phân tích đầu tiên trong quyết định thuê ngoài. Công ty cần khảo sát để xác định công ty có năng lực cốt lõi để sản xuất sản phẩm hay không? Nếu câu trả lời là có thì công ty không nên thuê ngoài.
Nhưng nếu câu trả lời là không thì công ty cần đánh giá thêm năng lực/ tính phụ thuộc, trong đánh giá này cần phân tích rủi ro phụ thuộc vào nhà cung cấp, nếu câu trả lời là có thì công ty cần đưa ra quyết định sản xuất ngay mà không cần đi đến bước đánh giá thứ ba.