Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm về người sử dụng lao động trong quan hệ lao động 1.1 Khái quát về người sử dụng lao động QHLĐ là quan hệ giữa NLĐ, tập thể NLĐ với NSDLĐ và tổ chức đại diện NSDLĐ, được xác lập trên cơ sở pháp luật lao động bao gồm các tiêu chuẩn về lao động, cơ chế xác lập và vận hành QHLĐ, thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, vai trò của các bên trong QHLĐ. Theo BLLĐ, QHLĐ là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ. QHLĐ do nhiều chủ thể tương tác với nhau, gồm: NLĐ và tổ chức đại diện của NLĐ, NSDLĐ và tổ chức đại diện của NSDLĐ, cơ quan nhà nước. Các chủ thể QHLĐ tương tác thông qua cơ chế tham vấn, đối thoại, thương lượng tạo thành cơ chế vận hành của QHLĐ.
Trong đó có cơ chế hai bên (NLĐ, đại diện của NLĐ với NSDLĐ; đại diện của NLĐ với đại diện NSDLĐ) và cơ chế ba bên (Nhà nước - đại diện NSDLĐ - đại diện của NLĐ). Về lý luận, cơ chế ba bên được xem là nghĩa rộng (có gốc từ tiếng la tinh là tripartitus)1 là hệ thống đại diện ba bên (nhà nước, NLĐ, NSDLĐ) trong quá trình điều chỉnh QHLĐ xã hội, là nền tảng của mối hợp tác xã hội. Cơ chế “hợp tác ba bên” có thể là việc cùng nhau nghiên cứu những vấn đề mà các bên cùng quan tâm, đảm bảo sao cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham khảo ý kiến của tổ chức NSDLĐ và tổ chức NLĐ, để cho họ có lời khuyên trong quá trình xây dựng và thông qua các văn bản pháp luật có liên quan đến lợi ích của họ, trong quá trình xây dựng và thực hiện các kế hoạch kinh tế - xã hội, trong quá trình thành lập các cơ quan của nhà nước nhằm thực hiện các vấn đề về lao động. Cơ chế hai bên (có nguồn gốc từ tiếng la tinh là bipartitus) có thể xem là nghĩa hẹp và trên thực tiễn được vận dụng nhiều hơn.
Đây là hình thức hợp tác giữa 1 http://www.ua/node/327 8 các bên trong QHLĐ, hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa tổ chức đại diện NLĐ với NSDLĐ hoặc trực tiếp giữa NLĐ và NSDLĐ thông qua quá trình xác lập và áp dụng các điều kiện lao động, cũng như giải quyết các bất đồng hoặc tranh chấp lao động thông qua hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật hiện hành. Trong một mối QHLĐ phát sinh luôn tồn tại các khái niệm về NLĐ và NSDLĐ. Theo đó, nhằm có những quy định chính xác và đầy đủ hàm nghĩa nhất theo quy định của pháp luật, thì NSDLĐ đã được quy định cụ thể trong tại khoản 2, điều 3 BLLĐ 2019 theo đó: “NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng NLĐ làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp NSDLĐ là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.” Cụ thể pháp luật đã quy định NSDLĐ có thể là cá nhân, tổ chức nói chung (doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình). Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng pháp luật đã có những quy định chung về các đối tượng trở thành NSDLĐ trên thị trường lao động hiện nay.
Qua đó, cho thấy NSDLĐ hiện nay có rất nhiều đối tượng khác nhau, tuy nhiên điều hình thành trong cơ chế của QHLĐ về việc thuê mướn NLĐ làm việc cho mình theo những thỏa thuận thống nhất riêng và không trái theo quy định của pháp luật hiện hành về lao động.2 Vai trò của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động Trong kinh tế vĩ mô, khái niệm việc làm được dùng để chỉ tỷ lệ lao động có việc làm. Theo đó, người chủ hay NSDLĐ có thể hiểu là người, doanh nghiệp thuê lao động với tư cách đầu vào nhân tố trong quá trình sản xuất hàng và dịch vụ. NSDLĐ trong mối QHLĐ có vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên môi trường làm việc đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tạo nên nhiều cơ hội việc làm để giải quyết các vấn đề tương tác trong thị trường lao động hiện nay.
NSDLĐ định hướng tạo ra khối lượng công việc nhằm thúc đẩy quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội và giải quyết các vấn đề về thực hiện nguồn lao động hiện nay trên thị trường lao động chung. Trong QHLĐ hiện nay, NSDLĐ đóng vai trò tiên quyết 9 trong quá trình sáng tạo, vận hành tạo nghiên cứu tạo nên các mô hình hoạt động kinh doanh sản xuất nhằm phát triển nền kinh tế chung của thị trường và tạo ra nhiều hoạt động lao động cho NLĐ, góp phần giải quyết các tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Đồng thời giúp Nhà nước giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển chung của đất nước theo các mục tiêu đề ra của Đảng và Nhà nước từng giai đoạn. Ngoài các vấn đề tạo nên môi trường làm việc trong thị trường lao động, NSDLĐ còn là nhân tố chính góp phần bảo vệ quyền và lợi ích cho NLĐ thông qua các chính sách được xây dựng một cách hài hòa nhằm góp phần hỗ trợ cũng như tạo nguồn thu nhập ổn định cho NLĐ.
NSDLĐ bằng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật hiện hành tạo nên một hệ thống quy chế riêng trong quá trình hoạt động của cơ sở góp phần thúc đẩy năng suất lao động, tạo mội trường cho NLĐ thuận lợi làm việc và phát triển bền vững, phát triển xã hội và đất nước. NSDLĐ có trách nhiệm xây dựng và thúc đẩy QHLĐ lành mạnh dựa trên các quy định của pháp luật về lao động hiện hành, thu hút được nguồn lao động nước ngoài cũng như nguồn lao động có đào tạo, giải quyết được các tình trạng dư thừa lao động mất cân đối lao động ở các ngành nghề thông qua việc tạo ra các hoạt động thương mại sản xuất mới trên thị trường hiện nay. Như vậy, NSDLĐ có vai trò rất quan trọng trong quá trình vận hành mối QHLĐ trong thị trường lao động. Đồng thời, góp phần giải quyết các vấn đề về an sinh xã hội, giải quyết vấn đề lao động dư thừa trong thị trường bằng cách sáng tạo đầu tư tạo điều kiện để sử dụng nguồn lao động hiện tại trên thị trường.
Góp phần vào sự phát triển chung của xã hội và đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập với nền kinh tế quốc tế hiện nay. NSDLĐ hiểu và thực thi đúng các quy định về pháp luật lao động có tác động tích cực đến hệ sinh thái lao động trên thị trường, giúp cho việc áp dụng đúng ý chí của các văn bản quy định pháp luật được vận dụng vào thực tiễn theo đúng ý chí của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực lao động.2 Khái niệm về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động 10 Trong quan mối QHLĐ hiện nay, nhằm đảm bảo công bằng và thực thi đúng quy định của pháp luật thì quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ cũng được quy định rõ tại Điều 6, BLLĐ 2019. Khác với các loại mua bán thông thường khác, hàng hóa – sức lao động. Pháp luật lao động hiện hành cũng đã hoàn thiện và bổ sung những quyền và nghĩa vụ đối với NSDLĐ và NLĐ.
Để đảm bảo việc thực hiện đúng hợp đồng cũng như nghĩa vụ để hạn chế tranh chấp phát sinh từ hợp đồng lao động, đồng thời là căn cứ để giải quyết tranh chấp lao động thì hợp đồng thường thỏa thuận những nội dung sau về quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ trong hợp đồng lao động. Theo đó, pháp luật đã có những quy định chặt chẽ, rõ ràng và chuẩn chỉnh về các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ, nhằm đưa ra những ràng buộc nhất định cũng như quyền mà NSDLĐ được pháp luật lao động bảo vệ nhằm tạo ra hành lang pháp lý vững vàng trong thị trường lao động. “Quyền” của NSDLĐ là những vấn đề mà pháp luật quy định NSDLĐ được phép tự do sử dụng trong hoạt động của mình đối với QHLĐ. Thông qua đó, thể hiện sự tự do và quyền hạn của mình trong việc vận hành đối với doanh nghiệp và NLĐ.
Pháp luật đã có những điều chỉnh về quyền của NLĐ phù hợp với thực tiễn vận hành của QHLĐ. Thông qua các quyền này, NSDLĐ có thể linh động xử lý các vấn đề liên quan một các hợp lý, linh động và hài hòa. Theo đó, có thể thấy rằng ý chí của pháp luật hiện hành vẫn rất tôn trọng các quyền hạn của NSDLĐ trong mối quan hệ pháp luật lao động bình đẳng. “Nghĩa vụ” của NSDLĐ là toàn bộ những vấn đề mà NSDLĐ bắt buộc phải thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.
Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích cân đối hợp pháp cho NLĐ khi tham gia vào thị trường lao động. NSDLĐ khi thực hiện việc tuyển dụng phải có nghĩa vụ thực thi đúng, đủ những quy định của pháp luật về nghĩa vụ của mình đối với việc xác lập một QHLĐ với NLĐ trong các bối cảnh khác nhau, luôn đáp ứng sự tuân thủ linh động theo nghĩa vụ được quy định. Như vậy có thể thấy rằng pháp luật đã tạo ra hành lang pháp lý về quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cũng như 11 trách nhiệm của NSDLĐ trên thị trường lao động hiện nay. Điều này tạo ra sự cân đối, hiệu quả trong quá trình áp dụng pháp luật và có sự điều chỉnh trong thị trường đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào quan hệ này.
Dựa theo những phân tích trên có thể hiểu rằng khái niệm về quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ chính là những vấn đề được pháp luật đưa ra quy định về những ràng buộc trách nhiệm và những quyền hạn của NSDLĐ được phép vận dụng trong mối quan hệ với NLĐ nhằm tạo dựng được những chuẩn mực trong QHLĐ, góp phần giải quyết các tranh chấp lao động khi có phát sinh.3 Các quyền chung của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam Pháp luật về lao động qua nhiều lần cải cách và sửa đổi nhằm phù hợp với sự phát triển của xã hội cũng như các QHLĐ phát sinh đã ban hành hàng loạt các quy định điều chỉnh các vấn đề liên quan đến các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng lao động.