Một số uấn đề uề QUYỀN TU DO KINH DOANH TRONG PHAP LUAT KINH TẾ HIEN HANH 0 VIỆT NAM Mã số. Bùi Ngọc Cường Một số uấn đề uề QUYEN TU DO KINH DOANH TRONG PHAP LUAT KINH TE HIEN HANH 0 VIỆT NAM ( Sách chuyên khao ) 2451 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÀ NỘI - 2004 CHÚ DẪN CỦA NHÀ XUẤT BẢN Trong tiến trình đổi moi đất nước, việc đổi mới cơ chế quản lý kmh tê là một trong những mục tiêu quan trọng được Đang và Nhà nước hết sức quan tâm chi đạo thực hiện. Nhung thành qua đạt được trong lĩnh vực kinh tế những năm đổi mới là những minh chứng thuyết phục về sự năng động, sáng tạo của Đăng ta trong quá trình lãnh đạo đất nước. Nói đến đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không thể không xác định mức độ bao dam việc thực hiện quyền tự do kinh doanh.
Thực tế đã chứng minh muốn bao dam quyền tự do kinh doanh thì hệ thống pháp luật là một trong những nhân tố quyết định. Đại hội Dang Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã dé ra đường lối đối mới, theo đó, quyền tự do kinh doanh đã chính thức trở thành quyền được thừa nhận về chính trị - pháp lý - Hiến pháp năm 1992, quyền tự do kinh doanh đã trở thành quyền hiến định. Vi vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ nội dung, ban chất của quyền tự do kinh doanh đặc biệt quan trọng trong tình hình hiện nay. Để giúp bạn đọc hiểu được nội dung, bản chất và hướng hoàn thiện quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiên nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách M6t số vấn để về quyền tu do kính doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở 5 Việt Nam (Sách chuyên khảo) của Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường - Trường Đại học Luật Hà Nội.
Xin giới thiệu cuốn sách và mong nhận ý kiến bổ sung, góp ý của bạn đọc. Thang 3 năm 2004 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRI QUỐC GIA LỜI NÓI ĐẦU Trong bat cứ nền kinh tế hang hóa nào cùng ton tại như cầu tự do kinh doanh. Tuy nhiên, trong các xã hội khác nhau và ở trong từng thời kỳ lịch sư cụ thể thì mức độ bảo đảm việc thực hiện nhu câu tự do kinh doanh cũng khác nhau. Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yêu tố, trong đó, pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh hệ thống phap luật là một trong nhưng nhân tố quyết định cho việc bảo đảm quyền tự đo kinh doanh. Sự khác nhau về tính hoàn thiên, tính hiệu quả của hệ thống pháp luật là một trong những nhân tố quyết định cho việc bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh. Thông thường, ở những quốc gia có hệ thông pháp luật đồng bộ thống nhất, có hiệu quả là những nước có thể khơi dậy nguồn hứng khởi cho các nhà kinh doanh, thu hút được các nguồn đầu tư cho sự phát triển kinh tế. Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, do áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, tự do kinh doanh đã chưa được pháp luật công nhận và trên thực tế không tồn tại khái niệm "quyền tự do kinh doanh".
Dai hội Dang Cong sản Việt Nam lần thứ VI đã dé ra đường lối đổi mới nói chung và cơ chế quản lý kinh tế nói riêng. Sau đó,tự do kinh doanh đã chính thức trở thành quyền pháp định. Diều 4 Luật công ty (1990) quy định "trong 7 khuôn khổ pháp luật, công ty có quyền tự do kinh doanh". Đến Hiến pháp (1992) thì tự do kinh doanh đã trở thành quyền hiến định: "Công đân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" (Điều 57).
Ở nước ta, quyền tự do kinh doanh là vấn đề còn rất mới mẻ trong khoa học pháp lý. Vì vậy, việc nghiên cứu lam sáng td ban chất, nội dung của quyển tự do kinh đoanh, trên cơ sở đó thể chế hóa kịp thời và đầy đủ những yêu cầu mà quyền tự do kinh doanh đặt ra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ở phương diện này, pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng có vai trò quyết định đối với việc bao dam tự do kinh doanh. Do đó, việc nghiên cửu để tìm ra nhưng luận cứ khoa học, nhưng định hướng và giải pháp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế bảo đảm tự do kinh doanh ở nước ta là đòi hỏi bức thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Chúng tôi biên soạn cuốn sách “Môt số van để vềquyển tu do kính doanh trong pháp luật kính tế hiện hành ở Việt Nam" với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc xây dựng cơ sở lý luận về quyền tự do kinh đoanh, xác định nội dung của quyền tự do kinh doanh, vai trò của pháp luật kinh tế trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, thực trạng quyền tự do kinh doanh theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật kinh tế hiện hành, tác giả cũng đưa ra những định hướng và giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh. Cuốn sách ra đời sẽ giúp cho các nhà kinh doanh trong và ngoài nước hiểu được những quyền và nghĩa vụ của họ trong kinh doanh, làm thế nào để thực hiện được những quyền đó. 8 Ngoài ra cuốn sách cùng de cập đến những van dé lý luận, đê các nha nghiên cứu, giảng day chuyên ngành luật, sinh viên ngành luật, ngành kinh tế có thể sử dụng cuốn sạch lam tai hiệu tham khao.
Nhân dip cuốn sách được an hành chúng tôi xin chân thành cam ơn Nhà xuất ban Chính trị quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi dé cuốn sách sớm ra mat độc giả. Tác giả rất mong nhận được sự góp y cưa bạn đọc. TÁC GIÁ Phan thứ nhất QUYỀN TỰ DO KINH DOANH VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT KINH TẾ TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH I. NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH “ 1.
Khái niệm kinh doanh và quyền tự đo kinh doanh 1. Khái niêm kính doanh Dưới góc độ kinh tế, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế, phản anh quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu. Hoạt động kinh doanh gắn liền với quan hệ sở hữu và bị quan hệ sở hữu chi phối.Mác đã phân biệt rõ hai loại tư bản: tư ban sở hữu và tu bản chức năng. Tư ban sở hữu là tu bản "chết", năm yên; tư bản chức năng là tư bản hoạt động, tu bản kinh doanh, lam cho tư bản "chết" thành tư bản "sống".
Tùy thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu sẽ có một chế độ kinh doanh nhất định. Mặt khác, quan 11 hệ kinh doanh có tác động trở lại quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu quyết định ban chất xã hội của quan hệ kinh doanh, mục đích và xu hướng vận động của nó. Nhưng tự nó, quan hệ sở hữu không tạo ra và không làm tăng thêm sản phẩm và giá tri.
Nó chi là diéu kiện cơ ban và tiên quyết của kinh doanh. Muôn làm được điều đó quan hệ sở hữu phải được thực hiện thông qua quan hệ kinh doanh. Nhờ có quan hệ kinh doanh mà quan hệ sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế, kinh đoanh càng có hiệu quả thì mức độ thực hiện sở hữu về mặt kinh tế càng cao. Kinh doanh bao giờ cũng phục vụ cho chế độ sở hữu, là hành động tiếp theo của sơ hữu.
Do đó, kinh doanh đóng vai trò làm cho sở hữu từ chỗ tồn tại về mặt hình thức trở thành tồn tại hiện thực. Với quan niệm đó, kinh doanh được chia thành nhiều kiểu, chế độ, lĩnh vực khác nhau, như kinh doanh trong nền sản xuất hang hóa giản đơn, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường; kinh doanh tu bản chủ nghĩa, kinh doanh xã hội chủ nghĩa; kinh doanh trong công nghiệp, kinh đoanh trong nông nghiệp, kinh doanh trong thương nghiệp, kinh doanh trong vận tải. Tuy nhiên, dù phân chia như thế nào thì mục đích cuối cùng của kinh doanh là làm tăng thêm giá trị vật chất cho xã hội và đối với từng nhà kinh doanh thì đó chính là lợi nhuận. Ở nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây do những điều kiện trong hoàn cảnh lịch sử cu thể lúc bấy giờ quy định nên đã có quan niệm không đầy đủ về kinh doanh.
Kinh doanh được hiểu theo nghĩa rất hẹp, kinh đoanh được coi là một phần của quá trình tái sản xuất, cụ thể là chỉ gắn 12 voi hoạt dong lưu thông, trao đối, là buôn bán. Thậm chí, có quan niệm ân tượng tiêu cực với kinh doanh, coi kinh doanh la con đường dẫn tới bóc lột. Do vậy, chỉ có các tô chức kinh tế xa hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thê) mới được phép kinh doanh, còn các thành phân kinh tế khác thi bị hạn chế và câm đoán. Thực ra, kinh doanh như đã trình bày ở trên luôn gắn với quan hệ hàng hóa - tiên tệ và quy luật gia trị.
Trong bat cứ phương thức sản xuất nao, còn sản xuất hàng hóa va quy luật giá trị tồn tại khách quan thì còn kinh doanh với tính cách là phương thức hoạt động kinh tếcủa con người. O nước ta, khái niệm kinh doanh được định nghĩa trong Luật công ty (1990). Theo quy định tại Điều 3 của đạo luật nay thi: "Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất ca các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thu sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục dich sinh lợi". Khái niệm kinh doanh được khang định lại trong Luật doanh nghiệp (1999) (khoản 2 Điều 3).
Với khái niệm trên, kinh doanh đã được hiểu một cách day du, đúng đắn bao gồm tất ca các hoạt động như: đầu tư, sản xuất, trao đồi, dich vu nếu các hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi. Hoạt động này không nhất thiết phải bao gồm tất cả các công đoạn để đạt đến kết quả cuối cùng mà chỉ cần một trong các hoạt động nói trên là đủ, miễn sao hoạt động đó có mục đích sinh lợi.